<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Diễn đàn xét nghiệm đa khoa  - Xét nghiệm mới]]></title>
		<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/</link>
		<description><![CDATA[Diễn đàn xét nghiệm đa khoa  - https://xetnghiemdakhoa.com/diendan]]></description>
		<pubDate>Mon, 01 Jun 2026 21:42:16 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Giáo trình hồi sức cấp cứu toàn tập (NXB Y HỌC)]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5678.html</link>
			<pubDate>Tue, 12 Jan 2016 04:19:36 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=31370">lehoangdat123</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5678.html</guid>
			<description><![CDATA[Tài liệu gồm 630 trang của giáo sư Vũ Văn Đính<br />
Giáo trình HỒI SỨC CẤO CỨU khá hay cho các bạn đây,các bạn có thể xem hoặc tải về <a href="http://hoctot123.com/detailNews.html@1077@9329@Giao-trinh-hoi-suc-cap-cuu-toan-tap-NXB-Y-HOC" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Giáo trình hồi sức cấp cứu toàn tập (NXB Y HỌC)</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tài liệu gồm 630 trang của giáo sư Vũ Văn Đính<br />
Giáo trình HỒI SỨC CẤO CỨU khá hay cho các bạn đây,các bạn có thể xem hoặc tải về <a href="http://hoctot123.com/detailNews.html@1077@9329@Giao-trinh-hoi-suc-cap-cuu-toan-tap-NXB-Y-HOC" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Giáo trình hồi sức cấp cứu toàn tập (NXB Y HỌC)</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Xét nghiệm ADN]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5319.html</link>
			<pubDate>Tue, 22 Sep 2015 02:26:35 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=14748">caokhai910</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5319.html</guid>
			<description><![CDATA[Một trong những lĩnh vực cao để giúp phần nào đó cho bác sĩ có thể chẩn đoán được bệnh là nhờ công nghệ sinh học - PCR<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Công ty cố phần dịch vụ phân tích di truyền - GENTIS</span><br />
Là trung tâm DUY NHẤT ở Việt Nam hiện nay đầu tư hệ thống đồng bộ phòng thí nghiệm phân tích ADN theo tiêu chuẩn quốc tế và ISO 9001:2008 với các trang thiết bị hiện đại được nhập khẩu trực tiếp từ các hãng uy tín nhất của Mỹ. Toàn bộ quá trình lấy mẫu và phân tích được thực hiện ngay tại các phòng xét nghiệm ở Hà Nội và Tp HCM.<br />
Có đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa học đã hoạt động lâu năm trong lĩnh vực Di truyền học và Công nghệ Sinh học. PGS.TS. Trịnh Đình Đạt - nguyên là Chủ nhiệm bộ môn Di truyền học (ĐH QGHN) là Chủ tịch Hội đồng khoa học của công ty; Cố vấn cao cấp về giám định ADN: Đại tá Hà Quốc Khanh - giám định viên kỹ thuật hình sự ; nguyên giám đốc trung tâm giám định ADN; viện phó viện Khoa học hình sự - Bộ công an. Đặc biệt hàng năm cử cán bộ tham gia khóa tập huấn về giám định ADN do cộng đồng hình sự châu Á tổ chức để cập nhật công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm.<br />
Sử dụng bộ Kit phân tích 16 và 24 locut gen (AmpFlSTR® Identifiler Plus và Global filer - Hãng Appliedbiosystems) đã được viện khoa học hình sự tính tần xuất và xác định phù hợp với hệ gen người Việt nam, đây cũng là bộ kit có độ chính xác và ổn định cao vì vậy nó được sử dụng phổ biến nhất thế giới hiện (chiếm 80%).<br />
Là đơn vị đầu tiên đầu tư hệ thống phân tích ADN thế hệ mới có thể phân tích tới 200 locut gen với độ chính xác 99,99999999998%.. phục vụ cho các trường hợp quan hệ cận huyết.<br />
Là trung tâm ĐẦU TIÊN tại Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2008 (do vương quốc Anh cấp) về dịch vụ phân tích ADN. Hiện tại công ty cũng đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 15189 cho các xét nghiệm y tế của mình. Do vậy, đại sứ quán các nước tại Việt Nam đã chỉ định công dân của mình đến Gentis để thực hiện phân tích ADN làm thủ tục nhập quốc tịch và thủ tục hành chính khác.<br />
Là trung tâm ĐẦU TIÊN sử dụng hệ thống phần mềm phân tích gen tự động GeneMapper - IDX, đây là phần mềm mới nhất trên thế giới hiện nay về phân tích giám định gen. Phần mềm này sẽ phân tích các dữ liệu ADN và tự động phân tích nhận diện ra 16 locut của từng mẫu và tự động so sánh dữ liệu ADN các mẫu đã được phân tích trước đó đã được mã hóa để để loại trừ khả năng nhiễm mẫu. Các kết quả được thực hiện tại Gentis được các phòng xét nghiệm ADN trên thế giới chấp nhận và có thể so sánh được với nhau.<br />
<br />
Ngoài ra GENTIS còn chẩn đoán 1 số căn bệnh về tiên hôn nhân, xét nghiệm Viên gan B và C nhờ vào hệ thống máy Realtim PCR và định tính, định type HPV( ung thư cổ tử cung) bằng Panagen<br />
<br />
Trụ sở công ty Gentis tại 15 -17 Nguyễn Chí Thanh, Ba Đình, Hà Nội. Gồm 8 tầng với diện tích sử dụng hơn 1.200 m2<br />
<br />
Mọi chi tiết biết thêm thông tin chi thiết truy cập: <a href="http://gentis.com.vn/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://gentis.com.vn/</a> và tư vấn : 0949 500 460 để biết thêm chi tiết và ưu đãi]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Một trong những lĩnh vực cao để giúp phần nào đó cho bác sĩ có thể chẩn đoán được bệnh là nhờ công nghệ sinh học - PCR<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Công ty cố phần dịch vụ phân tích di truyền - GENTIS</span><br />
Là trung tâm DUY NHẤT ở Việt Nam hiện nay đầu tư hệ thống đồng bộ phòng thí nghiệm phân tích ADN theo tiêu chuẩn quốc tế và ISO 9001:2008 với các trang thiết bị hiện đại được nhập khẩu trực tiếp từ các hãng uy tín nhất của Mỹ. Toàn bộ quá trình lấy mẫu và phân tích được thực hiện ngay tại các phòng xét nghiệm ở Hà Nội và Tp HCM.<br />
Có đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa học đã hoạt động lâu năm trong lĩnh vực Di truyền học và Công nghệ Sinh học. PGS.TS. Trịnh Đình Đạt - nguyên là Chủ nhiệm bộ môn Di truyền học (ĐH QGHN) là Chủ tịch Hội đồng khoa học của công ty; Cố vấn cao cấp về giám định ADN: Đại tá Hà Quốc Khanh - giám định viên kỹ thuật hình sự ; nguyên giám đốc trung tâm giám định ADN; viện phó viện Khoa học hình sự - Bộ công an. Đặc biệt hàng năm cử cán bộ tham gia khóa tập huấn về giám định ADN do cộng đồng hình sự châu Á tổ chức để cập nhật công nghệ và chia sẻ kinh nghiệm.<br />
Sử dụng bộ Kit phân tích 16 và 24 locut gen (AmpFlSTR® Identifiler Plus và Global filer - Hãng Appliedbiosystems) đã được viện khoa học hình sự tính tần xuất và xác định phù hợp với hệ gen người Việt nam, đây cũng là bộ kit có độ chính xác và ổn định cao vì vậy nó được sử dụng phổ biến nhất thế giới hiện (chiếm 80%).<br />
Là đơn vị đầu tiên đầu tư hệ thống phân tích ADN thế hệ mới có thể phân tích tới 200 locut gen với độ chính xác 99,99999999998%.. phục vụ cho các trường hợp quan hệ cận huyết.<br />
Là trung tâm ĐẦU TIÊN tại Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2008 (do vương quốc Anh cấp) về dịch vụ phân tích ADN. Hiện tại công ty cũng đang xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 15189 cho các xét nghiệm y tế của mình. Do vậy, đại sứ quán các nước tại Việt Nam đã chỉ định công dân của mình đến Gentis để thực hiện phân tích ADN làm thủ tục nhập quốc tịch và thủ tục hành chính khác.<br />
Là trung tâm ĐẦU TIÊN sử dụng hệ thống phần mềm phân tích gen tự động GeneMapper - IDX, đây là phần mềm mới nhất trên thế giới hiện nay về phân tích giám định gen. Phần mềm này sẽ phân tích các dữ liệu ADN và tự động phân tích nhận diện ra 16 locut của từng mẫu và tự động so sánh dữ liệu ADN các mẫu đã được phân tích trước đó đã được mã hóa để để loại trừ khả năng nhiễm mẫu. Các kết quả được thực hiện tại Gentis được các phòng xét nghiệm ADN trên thế giới chấp nhận và có thể so sánh được với nhau.<br />
<br />
Ngoài ra GENTIS còn chẩn đoán 1 số căn bệnh về tiên hôn nhân, xét nghiệm Viên gan B và C nhờ vào hệ thống máy Realtim PCR và định tính, định type HPV( ung thư cổ tử cung) bằng Panagen<br />
<br />
Trụ sở công ty Gentis tại 15 -17 Nguyễn Chí Thanh, Ba Đình, Hà Nội. Gồm 8 tầng với diện tích sử dụng hơn 1.200 m2<br />
<br />
Mọi chi tiết biết thêm thông tin chi thiết truy cập: <a href="http://gentis.com.vn/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">http://gentis.com.vn/</a> và tư vấn : 0949 500 460 để biết thêm chi tiết và ưu đãi]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Chẩn đoán và điều trị Helicobacter pylori tại Việt Nam]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5249.html</link>
			<pubDate>Sun, 02 Aug 2015 09:57:48 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=28862">tuonglai.hpvn</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5249.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Helicobacter pylori (H.pylori hoặc HP) được thấy ở khoảng một nửa dân số thế giới. Tần suất của H.pylori phụ thuộc vào vùng địa lý, dân tộc, lứa tuổi và các yếu tố kinh tế xã hội: cao ở các nước đang phát triển và thấp hơn ở các nước phát triển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tần suất H.pylori có xu hướng giảm ở nhiều vùng của trái đất (theo World Gastroenterology Organization, 2010). <br />
 <br />
H.pylori là loại vi khuẩn không chỉ gây nên viêm dạ dày, viêm tá tràng và loét dạ dày ở người mà còn là yếu tố gây bệnh do vi khuẩn quan trọng nhất có liên quan với ung thư dạ dày thể tuyến (gastric adenocarcinoma) và các u lympho của mô lympho liên quan với màng nhày (mucosa-associated lymphoid tissue lymphomas: MALT) [4, 7]. <br />
<br />
Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C, còn gọi là xét nghiệm hơi thở ure 13/14C (13/14C-urea breath test: UBT) là kỹ thuật không xâm lấn (non-invasive) [1, 3, 4, 5], dựa trên nguyên tắc đơn giản là ure với nguyên tử Carbon &copy; ghi dấu 13C hoặc 14C sẽ nhanh chóng bị thủy phân bởi enzym urease của H.pylori thành anion bicarbonate H13/14CO3- và cation amoni NH4+theo phản ứng:<br />
                             Urease (từ H.pylori)  <br />
                 13/14CO(NH2)2 + 2H20 + H+ → H13/14CO3- + 2NH4+<br />
<br />
Bicarbonate H13/14CO3- giải phóng sẽ được hấp thụ qua lớp dịch của dịch dạ dày vào máu tuần hoàn, về phổi và tạo thành 13/14CO2 theo phản ứng:<br />
                  H13,14CO3- + H+ → 13/14CO2 + H2O<br />
<br />
13/14CO2 được bài xuất qua hơi thở sẽ được thu lại vào một túi nilon rồi được đưa vào dung dịch hấp thu. Sau đó, nếu ure được sử dụng là ure 14C thì 14CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy đếm nhấp nháy beta (beta scintillation counter), còn nếu ure được sử dụng là ure13C thì 13CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy phổ khối (mass spectrometer) hoặc máy phổ hồng ngoại (infrared spectroscopy). NH4+ sinh ra và ure13/14C còn thừa chưa phản ứng sẽ được hấp thu vào máu và bài tiết qua thận ra nước tiểu<br />
<br />
Việc đo 13/14CO2 trong hơi thở cho phép phát hiện bệnh nhân hiện có đang bị nhiễm H.pylori hay không?<br />
<br />
1. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có thể được chỉ định để sàng lọc các bệnh nhân có biểu hiện rối loạn dạ dày trước khi nội soi và để đánh giá hiệu quả điều trị loại trừ H.pylori:<br />
<br />
1. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có thể được chỉ định trước khi nội soi để phát hiện nhiễm H.pylori ở các bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như: <br />
<br />
- Đau vùng thượng vị<br />
- Đầy hơi<br />
- Ợ chua<br />
- Khó tiêu<br />
- Buồn nôn, …<br />
<br />
2. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C còn được chỉ định sau điều trị ba tháng để đánh giá hiệu quả của điều trị diệt H.pylori bằng kháng sinh mà không cần phải nội soi dạ dày để sinh thiết làm test urease nhanh hoặc các xét nghiệm xâm lấn khác.<br />
<br />
Chú ý: xét nghiệm hơi thở ure 13/14C sẽ không chính xác khi:<br />
<br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể (+) tính giả nếu mẫu hơi thở được lấy trong khoảng thời gian ngắn &lt; 10 phút sau khi uống ure 13/14C<br />
.<br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể (-) tính giả nếu bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh, muối bismuth, các thuốc ức chế bơm proton (proton pump inhibitors: PPI) hoặc sucralfate. Bệnh nhân cần phải ngừng sử dụng các loại thuốc trên ít nhất 10 ngày trước khi làm xét nghiệm hơi thở ure 13/14C.  <br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C nên được thực hiện trong điều kiện đói, ít nhất 4 giờ sau khi ăn [3].   - Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể được sử dụng ở trẻ em &gt; 4 tuổi và phụ nữ có thai &gt; 8 tuần tuổi.  <br />
<br />
2. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Khi sử dụng ure 14C với liều là 1 µCi (0,2 mL) hòa với 50 mL acid citric để uống, một mẫu hơi thở được lấy trước khi uống và một mẫu hơi thở được lấy ở phút thứ 10-15 sau khi uống ure 14C, 14CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy nhấp nháy lỏng beta. Kết quả phát hiện nhiếm H.pylori được đánh giá theo số đếm nhấp nháy trong một phút (cpm: counts per minute) như sau:<br />
<br />
- Giá trị từ 0 - &lt;25 cpm là (-) tính: bệnh nhân hiện không bị nhiễm H.pylori<br />
<br />
- Giá trị từ 25-&lt;50 cpm là không xác định.<br />
<br />
- Giá trị &gt; 50 cpm là (+) tính: bệnh nhân đang bị nhiễm H.pylori [1].<br />
<br />
Ba tháng sau đợt điều trị H.pylori bằng kháng sinh, cần xét nghiệm hơi thở ure 13/14C: nếu xét nghiệm (+) tính: bệnh nhân vẫn đang bị nhiễm H.pylori, điều trị không thành công; nếu (-) tính, bệnh nhân hiện không còn bị nhiễm H.pylori, điều trị đã thành công. <br />
ẾT LUẬN<br />
<br />
1. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C là xét nghiệm không xâm lấn, nhanh và thuận tiện được chỉ định trước nội soi để phát hiện sự nhiễm H.pylori ở bệnh nhân bị viêm loét dạ dày, đồng thời còn được chỉ định sau điều trị ba tháng để đánh giá hiệu quả điều trị diệt H.pylori bằng kháng sinh. <br />
<br />
2. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo (+) tính, giá trị dự báo (-) tính và độ chính xác đều cao hơn so với các xét nghiệm để phát hiện sự nhiễm H.pylori khác.<br />
<br />
Máy Xét Nghiệm Hơi thở Helicobacter Pylori <br />
<br />
Model: HUBT Công nghệ : Úc. Sản xuất tại Headway<br />
Tiêu chuẩn chất lượng:CE/TUV/ISO 9001<br />
Máy chẩn đoán Helicobacter pylori HUBT  được thiết kế sử dụng cho xét nghiệm hơi thở Urê 14C đơn giản và an toàn cho các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm của lây nhiễm H.pylori.<br />
HUBT  sử dụng máy đếm ion để đo 14C trong hơi thở và không nhất thiết phải áp dụng dung dịch ánh kim (scintillation solution) hoặc phòng tối đặc biệt (special darkroom).<br />
Cho nên, sự gọn nhẹ của máy giúp vận hành và bảo trì tiện lợi.<br />
<br />
Đặc điểm nổi bật của sản phẩm :<br />
Khối lượng nhẹ và gọn dễ dàng vận chuyển;<br />
Vận hành đơn giản chỉ một nút bấm, thân thiện với người sử dụng;<br />
Màn hình hiển thị thiết kế rõ ràng, đơn giản;<br />
Có thể tiến hành phân tích 5 phút sau khi lắp đặt;<br />
In tự động kết quả;<br />
Những ưu điểm<br />
-  Độ chính xác cao: đảm bảo độ nhạy lên tới 98%.<br />
-  Độ đặc hiệu 100%<br />
-  Không xâm lấn <br />
-  Quy trình vận hành 1 lần xét nghiệm bằng máy "Xét nghiệm Hơi thở Helicobacter Pylori"<br />
Bước 1 : Cho bệnh nhân uống 1 viên thuốc C14 với 1 lượng nước vừa : 15 phút .<br />
Bước 2 : Cho bệnh nhân thổi đều từng lần một vào trong thẻ xét nghiệm : 3 - 5 phút <br />
Bước 3 : Đưa thẻ xét nghiệm vào máy , máy tự động cho ra kết quả : 250s . ( 4 phút ).<br />
Tổng cộng : 25 phút cho 1 lần xét nghiệm .<br />
<br />
Đặc tính:<br />
1. Mức đo cơ bản ............................. ≤ 40 CPM<br />
2. Hiệu quả phát hiện 14C ................ ≥ 15%<br />
3. Thời gian đo ..................................150 – 1000 giây<br />
4. Công suất ......................................≤ 20W<br />
5. Kích thước ................................... 275mm x 210mm x 195mm<br />
6. Khối lượng ....................................10kg<br />
Bảo Hành: 12 tháng (Đổi máy mới trong thời gian bảo hành)<br />
Đặc tính Kỹ Thuật<br />
Đặc tính<br />
1. Viên thuốc Urê 14C : 27.8 kBq (0.75 μCi)/viên * 40 viên/hộp<br />
2. Thẻ xét nghiệm : 40 thẻ/hộp<br />
3. Bao lưu trữ vô trùng.<br />
<br />
<img src="http://i.imgur.com/y5nV7VD.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: y5nV7VD.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<img src="http://i.imgur.com/l6pO0nx.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: l6pO0nx.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
Muốn tìm hiểu thêm thông tin chi tiết xin liên hệ :<br />
Mail: manhha.duonggia@gmail.com<br />
SĐT: 0961688617[/align]<br />
<br />
<br />
<br />
</span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-size: large;" class="mycode_size">Helicobacter pylori (H.pylori hoặc HP) được thấy ở khoảng một nửa dân số thế giới. Tần suất của H.pylori phụ thuộc vào vùng địa lý, dân tộc, lứa tuổi và các yếu tố kinh tế xã hội: cao ở các nước đang phát triển và thấp hơn ở các nước phát triển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tần suất H.pylori có xu hướng giảm ở nhiều vùng của trái đất (theo World Gastroenterology Organization, 2010). <br />
 <br />
H.pylori là loại vi khuẩn không chỉ gây nên viêm dạ dày, viêm tá tràng và loét dạ dày ở người mà còn là yếu tố gây bệnh do vi khuẩn quan trọng nhất có liên quan với ung thư dạ dày thể tuyến (gastric adenocarcinoma) và các u lympho của mô lympho liên quan với màng nhày (mucosa-associated lymphoid tissue lymphomas: MALT) [4, 7]. <br />
<br />
Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C, còn gọi là xét nghiệm hơi thở ure 13/14C (13/14C-urea breath test: UBT) là kỹ thuật không xâm lấn (non-invasive) [1, 3, 4, 5], dựa trên nguyên tắc đơn giản là ure với nguyên tử Carbon &copy; ghi dấu 13C hoặc 14C sẽ nhanh chóng bị thủy phân bởi enzym urease của H.pylori thành anion bicarbonate H13/14CO3- và cation amoni NH4+theo phản ứng:<br />
                             Urease (từ H.pylori)  <br />
                 13/14CO(NH2)2 + 2H20 + H+ → H13/14CO3- + 2NH4+<br />
<br />
Bicarbonate H13/14CO3- giải phóng sẽ được hấp thụ qua lớp dịch của dịch dạ dày vào máu tuần hoàn, về phổi và tạo thành 13/14CO2 theo phản ứng:<br />
                  H13,14CO3- + H+ → 13/14CO2 + H2O<br />
<br />
13/14CO2 được bài xuất qua hơi thở sẽ được thu lại vào một túi nilon rồi được đưa vào dung dịch hấp thu. Sau đó, nếu ure được sử dụng là ure 14C thì 14CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy đếm nhấp nháy beta (beta scintillation counter), còn nếu ure được sử dụng là ure13C thì 13CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy phổ khối (mass spectrometer) hoặc máy phổ hồng ngoại (infrared spectroscopy). NH4+ sinh ra và ure13/14C còn thừa chưa phản ứng sẽ được hấp thu vào máu và bài tiết qua thận ra nước tiểu<br />
<br />
Việc đo 13/14CO2 trong hơi thở cho phép phát hiện bệnh nhân hiện có đang bị nhiễm H.pylori hay không?<br />
<br />
1. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có thể được chỉ định để sàng lọc các bệnh nhân có biểu hiện rối loạn dạ dày trước khi nội soi và để đánh giá hiệu quả điều trị loại trừ H.pylori:<br />
<br />
1. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có thể được chỉ định trước khi nội soi để phát hiện nhiễm H.pylori ở các bệnh nhân có các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như: <br />
<br />
- Đau vùng thượng vị<br />
- Đầy hơi<br />
- Ợ chua<br />
- Khó tiêu<br />
- Buồn nôn, …<br />
<br />
2. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C còn được chỉ định sau điều trị ba tháng để đánh giá hiệu quả của điều trị diệt H.pylori bằng kháng sinh mà không cần phải nội soi dạ dày để sinh thiết làm test urease nhanh hoặc các xét nghiệm xâm lấn khác.<br />
<br />
Chú ý: xét nghiệm hơi thở ure 13/14C sẽ không chính xác khi:<br />
<br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể (+) tính giả nếu mẫu hơi thở được lấy trong khoảng thời gian ngắn &lt; 10 phút sau khi uống ure 13/14C<br />
.<br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể (-) tính giả nếu bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh, muối bismuth, các thuốc ức chế bơm proton (proton pump inhibitors: PPI) hoặc sucralfate. Bệnh nhân cần phải ngừng sử dụng các loại thuốc trên ít nhất 10 ngày trước khi làm xét nghiệm hơi thở ure 13/14C.  <br />
- Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C nên được thực hiện trong điều kiện đói, ít nhất 4 giờ sau khi ăn [3].   - Xét nghiệm hơi thở ure 13/14C có thể được sử dụng ở trẻ em &gt; 4 tuổi và phụ nữ có thai &gt; 8 tuần tuổi.  <br />
<br />
2. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Khi sử dụng ure 14C với liều là 1 µCi (0,2 mL) hòa với 50 mL acid citric để uống, một mẫu hơi thở được lấy trước khi uống và một mẫu hơi thở được lấy ở phút thứ 10-15 sau khi uống ure 14C, 14CO2 sinh ra sẽ được đo bởi máy nhấp nháy lỏng beta. Kết quả phát hiện nhiếm H.pylori được đánh giá theo số đếm nhấp nháy trong một phút (cpm: counts per minute) như sau:<br />
<br />
- Giá trị từ 0 - &lt;25 cpm là (-) tính: bệnh nhân hiện không bị nhiễm H.pylori<br />
<br />
- Giá trị từ 25-&lt;50 cpm là không xác định.<br />
<br />
- Giá trị &gt; 50 cpm là (+) tính: bệnh nhân đang bị nhiễm H.pylori [1].<br />
<br />
Ba tháng sau đợt điều trị H.pylori bằng kháng sinh, cần xét nghiệm hơi thở ure 13/14C: nếu xét nghiệm (+) tính: bệnh nhân vẫn đang bị nhiễm H.pylori, điều trị không thành công; nếu (-) tính, bệnh nhân hiện không còn bị nhiễm H.pylori, điều trị đã thành công. <br />
ẾT LUẬN<br />
<br />
1. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C là xét nghiệm không xâm lấn, nhanh và thuận tiện được chỉ định trước nội soi để phát hiện sự nhiễm H.pylori ở bệnh nhân bị viêm loét dạ dày, đồng thời còn được chỉ định sau điều trị ba tháng để đánh giá hiệu quả điều trị diệt H.pylori bằng kháng sinh. <br />
<br />
2. Xét nghiệm hơi thở ure 13C hoặc 14C có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo (+) tính, giá trị dự báo (-) tính và độ chính xác đều cao hơn so với các xét nghiệm để phát hiện sự nhiễm H.pylori khác.<br />
<br />
Máy Xét Nghiệm Hơi thở Helicobacter Pylori <br />
<br />
Model: HUBT Công nghệ : Úc. Sản xuất tại Headway<br />
Tiêu chuẩn chất lượng:CE/TUV/ISO 9001<br />
Máy chẩn đoán Helicobacter pylori HUBT  được thiết kế sử dụng cho xét nghiệm hơi thở Urê 14C đơn giản và an toàn cho các phương pháp chẩn đoán trong phòng thí nghiệm của lây nhiễm H.pylori.<br />
HUBT  sử dụng máy đếm ion để đo 14C trong hơi thở và không nhất thiết phải áp dụng dung dịch ánh kim (scintillation solution) hoặc phòng tối đặc biệt (special darkroom).<br />
Cho nên, sự gọn nhẹ của máy giúp vận hành và bảo trì tiện lợi.<br />
<br />
Đặc điểm nổi bật của sản phẩm :<br />
Khối lượng nhẹ và gọn dễ dàng vận chuyển;<br />
Vận hành đơn giản chỉ một nút bấm, thân thiện với người sử dụng;<br />
Màn hình hiển thị thiết kế rõ ràng, đơn giản;<br />
Có thể tiến hành phân tích 5 phút sau khi lắp đặt;<br />
In tự động kết quả;<br />
Những ưu điểm<br />
-  Độ chính xác cao: đảm bảo độ nhạy lên tới 98%.<br />
-  Độ đặc hiệu 100%<br />
-  Không xâm lấn <br />
-  Quy trình vận hành 1 lần xét nghiệm bằng máy "Xét nghiệm Hơi thở Helicobacter Pylori"<br />
Bước 1 : Cho bệnh nhân uống 1 viên thuốc C14 với 1 lượng nước vừa : 15 phút .<br />
Bước 2 : Cho bệnh nhân thổi đều từng lần một vào trong thẻ xét nghiệm : 3 - 5 phút <br />
Bước 3 : Đưa thẻ xét nghiệm vào máy , máy tự động cho ra kết quả : 250s . ( 4 phút ).<br />
Tổng cộng : 25 phút cho 1 lần xét nghiệm .<br />
<br />
Đặc tính:<br />
1. Mức đo cơ bản ............................. ≤ 40 CPM<br />
2. Hiệu quả phát hiện 14C ................ ≥ 15%<br />
3. Thời gian đo ..................................150 – 1000 giây<br />
4. Công suất ......................................≤ 20W<br />
5. Kích thước ................................... 275mm x 210mm x 195mm<br />
6. Khối lượng ....................................10kg<br />
Bảo Hành: 12 tháng (Đổi máy mới trong thời gian bảo hành)<br />
Đặc tính Kỹ Thuật<br />
Đặc tính<br />
1. Viên thuốc Urê 14C : 27.8 kBq (0.75 μCi)/viên * 40 viên/hộp<br />
2. Thẻ xét nghiệm : 40 thẻ/hộp<br />
3. Bao lưu trữ vô trùng.<br />
<br />
<img src="http://i.imgur.com/y5nV7VD.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: y5nV7VD.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<img src="http://i.imgur.com/l6pO0nx.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: l6pO0nx.jpg]" class="mycode_img" /><br />
<br />
Muốn tìm hiểu thêm thông tin chi tiết xin liên hệ :<br />
Mail: manhha.duonggia@gmail.com<br />
SĐT: 0961688617[/align]<br />
<br />
<br />
<br />
</span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Kết quả xét nghiệm Double test]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5097.html</link>
			<pubDate>Sun, 24 May 2015 09:13:21 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=28847">diemnguyen</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5097.html</guid>
			<description><![CDATA[Xin chào !<br />
Tôi mang thai tuần thứ 12 siêu âm kết quả như sau:<br />
các số đo phôi thai : CRL = 56 mm; BPD = 20 mm; AC 56 mm; FL = 77mm<br />
NT= 1,5<br />
 đến khoảng 13 tuần tôi làm xét nghiệm<br />
 Kết quả Double test :<br />
- Nồng độ các chất : PAPPA –A (PAA) có tỷ lệ là 1/350<br />
 Vậy nguy cơ bé có mắc bệnh Dow hay không ? nhờ Bác sỹ tư vấn<br />
<img src="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/images/smilies/zing/complaint.gif" alt="Complaint" title="Complaint" class="smilie smilie_21" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Xin chào !<br />
Tôi mang thai tuần thứ 12 siêu âm kết quả như sau:<br />
các số đo phôi thai : CRL = 56 mm; BPD = 20 mm; AC 56 mm; FL = 77mm<br />
NT= 1,5<br />
 đến khoảng 13 tuần tôi làm xét nghiệm<br />
 Kết quả Double test :<br />
- Nồng độ các chất : PAPPA –A (PAA) có tỷ lệ là 1/350<br />
 Vậy nguy cơ bé có mắc bệnh Dow hay không ? nhờ Bác sỹ tư vấn<br />
<img src="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/images/smilies/zing/complaint.gif" alt="Complaint" title="Complaint" class="smilie smilie_21" />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Xét nghiệm sàng lọc dị tật Double test và Triple test - Những hỏi đáp cơ bản]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5038.html</link>
			<pubDate>Thu, 07 May 2015 15:22:46 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-5038.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DOUBLE TEST VÀ TRIPLE TEST</span><br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://www.thucduong.org/wp-content/uploads/2014/09/hoi-chung-down.png" loading="lazy"  alt="[Image: hoi-chung-down.png]" class="mycode_img" /></div>
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Mục đích của xét nghiệm sàng lọc Double test và Triple test là gì?</span></span><br />
Nhằm xác định nguy cơ các dị tật di truyền. <br />
- Xét nghiệm Double test cho phép xác định nguy cơ mắc các dị tật của: Hội chứng Down (thừa NST 21), hội chứng Trisomy 18 (thừa NST 18) và hội chứng Trisomy 13 (thừa NST 13). <br />
- Xét nghiệm Triple test cho phép xác định nguy cơ mắc các dị tật của: Hội chứng Down (thừa NST 21), hội chứng Trisomy 18 (thừa NST 18) và dị tật ống thần kinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Ý nghĩa của xét nghiệm Double test và Triple test </span></span><br />
Xét nghiệm này không khẳng định thai nhi bình thường hay bất thường về các dị tật ở trên mà chỉ xác định nguy cơ thai nhi mắc các dị tật này là cao hay thấp. Một kết quả nguy cơ cao không có nghĩa là thai nhi có dị tật và ngược lại một kết quả nguy cơ thấp không khẳng định thai nhi bình thường. <br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Hội chứng Down là gì?</span></span><br />
Hội chứng Down  là một bệnh do thừa một nhiễm sắc thể số 21. Trung bình trong khoảng từ 700 đến 1000 trẻ sơ sinh sẽ có 1 trẻ mắc bệnh này. Người bệnh bị chậm phát triển trí tuệ ở những mức độ khác nhau và có thể có kèm theo các dị tật của tim, ruột, bất thường trong khả năng nghe, nhìn v.v... Với trình độ y học hiện  nay,  người  mắc   hội chứng    Down  có  thể  sống  tới 40 - 50 tuổi.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Hội chứng Trisomy 18 là gì?</span></span><br />
Thể tam nhiễm sắc thể 18 còn gọi là hội chứng Edward xảy ra do thừa một nhiễm sắc thể số 18. Một số ít mắc hội chứng dưới dạng khảm hoặc do NST bị chuyển đoạn. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn ở nam. Trung bình trong khoảng 3000 trẻ sơ sinh sẽ có một trẻ mắc hội chứng này.<br />
Thai nhi mắc hội chứng này thường có những khuyết tật nghiêm trọng, đa số đều chết trước, trong hoặc ngay sau khi sinh. Chỉ có khoảng một nửa trẻ mắc thể tam nhiễm sắc thể 18 sống được tới một tháng và khoảng 10% trẻ sống được tới hơn một năm. Những trẻ này đều cần tới sự chăm sóc đặc biệt. Trẻ có trọng lượng sơ sinh thấp, khuôn mặt tròn, đầu nhỏ và hàm nhỏ, dị dạng tim, thận, chậm phát triển tâm thần, trẻ sơ sinh có ngón tay trỏ và tay út gập đè lên các ngón khác.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Hội chứng Trisomy 13 là gì?</span></span><br />
Thể tam nhiễm sắc thể 13 còn gọi là hội chứng Patau xảy ra do thừa một nhiễm sắc thể số 13. Một số ít mắc bệnh dưới dạng khảm hoặc do NST bị chuyển đoạn. Bệnh hiếm gặp, trung bình trong khoảng 25.000 trẻ sơ sinh sẽ có một trẻ mắc hội chứng này.<br />
Trẻ bị chậm phát triển tâm thần và mắc nhiều dị dạng như đầu nhỏ, thừa ngón tay chân, sứt môi – hở hàm, bất thường của tim, thành bụng v.v... Đại đa số thai nhi bị thể tam nhiễm sắc thể 13 đều chết trước, trong và ngay sau khi sinh. Đa số trẻ chết trong vòng vài ngày sau sinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">6. Dị tật ống thần kinh?</span></span><br />
Ống thần kinh là một cấu trúc phát triển trong những tuần đầu tiên của thai kì (khoảng 6 tuần sau ngày kinh cuối) tạo thành não và tủy sống của thai nhi. Tấm thần kinh khép dần lại tạo thành ống thần kinh. Nếu quá trình khép lại của tấm thần kinh diễn ra không hoàn toàn sẽ làm xuất hiện các loại dị tật hở của ống thần kinh. Có các dạng dị tật bẩm sinh phổ biến của ống thần kinh là tật nứt đốt sống, quái thai vô não và thoát vị não-màng não. Trung bình trong 1000 trẻ sinh ra có khoảng 2 trẻ mắc dị tật của ống thần kinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">7. Những sản phụ nào nên làm xét nghiệm Double test và Triple test?</span></span><br />
Tất cả các sản phụ đều nên làm xét nghiệm sàng lọc double test và triple test. Đặc biệt là những người có nguy cơ cao như:<br />
- Tuổi trên 35.<br />
- Đã từng sảy thai/thai chết lưu không rõ nguyên nhân.<br />
- Đã từng mang thai/sinh con có các dị tật di truyền.<br />
- Tiền sử gia đình có người sinh con dị tật.<br />
- Đái tháo đường, hút thuốc lá.<br />
- Nhiễm virus trong quá trình mang thai.<br />
- Có các biểu hiện hoặc nghi ngờ bất thường trên kết quả siêu âm<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">8. Xét nghiệm Double test và triple test được thực hiện ở thời điểm nào?</span></span><br />
- Xét nghiệm Double test được thực hiện từ tuần thai 11  đến 13 tuần 6 ngày. Tốt nhất ở tuần thai thứ 12 - 13.<br />
- Xét nghiệm Triple test được thực hiện ở tuần thai 15 đến 22. Tốt nhất ở khoảng tuần thai thứ 16 - 18.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">9. Double test xác định những chất gì trong máu mẹ?</span></span><br />
Double test xác định nồng độ 2 chất do thai nhi tiết ra vào trong máu mẹ là:<br />
- PAPPA –A (PAA).<br />
- Free Beta hCG (FBC).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">10. PAPPA –A (PAA)?</span></span><br />
- PAPP-A (Pregnancy Associated Plasma Protein A) là một loại glycoprotein do nhau thai bài tiết. Trong thai kỳ bình thường, nồng độ PAPP-A tăng dần trong suốt thai kỳ. Trong quý I của thai kỳ nếu thai nhi mắc hội chứng Down sẽ thấy nồng độ PAPP-A trong máu mẹ giảm, trong khi đó ở quý II nồng độ PAPP-A vẫn giữ ở mức bình thường hoặc chỉ hơi giảm do đó PAPP-A chỉ được dùng trong quý I của thai kỳ để sàng lọc thai nhi mắc hội chứng Down.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">11.  Free Beta hCG (FBC).</span></span><br />
FreeBeta hCG là một thành phần trong cấu trúc của hoocmôn hCG (human chorionic gonadotropin). hCG đầu tiên được các tế bào lá nuôi của trứng sau khi đã được thụ tinh tiết ra sau đó sẽ do nhau thai bài tiết. hCG có mặt trong huyết thanh của mẹ vào khoảng 6 đến 8 ngày sau khi trứng được thụ tinh và đạt tới nồng độ cao nhất sau từ 50 đến 80 ngày tính từ lần kinh cuối. hCG được cấu thành từ hai tiểu đơn vị là α (alpha) và β (bêta). Nếu thai nhi mắc hội chứng Down, nồng độ của tiểu đơn vị freeBeta hCG gia tăng đáng kể trong quý I và quý II của thai kỳ.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">12. Siêu âm đóng vai trò gì trong xét nghiệm Double test?</span></span><br />
Siêu âm đóng một vai trò rất quan trọng trong xét nghiệm Double test . Để xác định được các nguy cơ dị tật của thai ngoài việc xác định nồng độ của 2 chất trên còn cần phải kết hợp với kết quả siêu âm thai (đặc biệt kết quả siêu âm thai ở tuần thai 12). Kết quả siêu âm thai cần phải cho biết chính xác các thông tin sau:<br />
- Chiều dài đầu mông (CRL).<br />
- Khoảng sáng sau gáy hay độ mờ da gáy (NT).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">13. Triple test xác định những chất gì trong máu mẹ?</span></span><br />
Triple test xác định nồng độ 3 chất do thai nhi tiết vào trong máu mẹ là:<br />
- AFP (Alpha feto protein)<br />
- β hCG (Beta Human Chorionic gonadotropin)<br />
- uE3 (Unconjugated estriol).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">14. AFP?</span></span><br />
AFP (alpha fetoprotein) là một loại glycôprôtêin có nguồn gốc bào thai, do túi noãn hoàng của phôi tổng hợp và sau đó được gan của thai nhi tổng hợp. AFP của bào thai đi vào máu mẹ bằng cách thấm qua màng ối và có mặt trong nước ối từ nước tiểu của thai nhi. Sự gia tăng của nồng độ AFP trong nước ối và trong máu mẹ liên quan đến nhiều dị tật của thai nhi đặc biệt là khuyết tật của ống thần kinh. Trong quý II của thai kỳ, sự sụt giảm nồng độ AFP được thấy trong khoảng 30% trường hợp thai nhi mắc hội chứng Down.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">15. β hCG?</span></span> <br />
- Là glucoprotein do tế bào lá nuôi bài tiết (xuất hiện vào ngày thứ 8).<br />
- Nồng độ β hCG đạt tối đa vào khoảng tuần thứ 8 -9.<br />
- Nồng độ β hCG tăng cao trong hộ chứng Down.<br />
- Nồng độ β hCG giảm trong hộ chứng Trisomy 18.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">16. uE3?</span></span><br />
uE3 (unconjugated estriol: estriol không kết hợp, estriol tự do) là một loại steroid có nguồn gốc từ nhau thai. Trong huyết thanh của mẹ, estriol được đo dưới dạng không kết hơp uE3. Trong thai kỳ bình thường nồng độ của estriol tự do và estriol toàn phần tăng dần trong suốt thai kỳ. Trong trường hợp thai nhi mắc hội chứng Down, nồng độ của uE3 sẽ giảm.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ DOUBLE TEST VÀ TRIPLE TEST</span><br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://www.thucduong.org/wp-content/uploads/2014/09/hoi-chung-down.png" loading="lazy"  alt="[Image: hoi-chung-down.png]" class="mycode_img" /></div>
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Mục đích của xét nghiệm sàng lọc Double test và Triple test là gì?</span></span><br />
Nhằm xác định nguy cơ các dị tật di truyền. <br />
- Xét nghiệm Double test cho phép xác định nguy cơ mắc các dị tật của: Hội chứng Down (thừa NST 21), hội chứng Trisomy 18 (thừa NST 18) và hội chứng Trisomy 13 (thừa NST 13). <br />
- Xét nghiệm Triple test cho phép xác định nguy cơ mắc các dị tật của: Hội chứng Down (thừa NST 21), hội chứng Trisomy 18 (thừa NST 18) và dị tật ống thần kinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Ý nghĩa của xét nghiệm Double test và Triple test </span></span><br />
Xét nghiệm này không khẳng định thai nhi bình thường hay bất thường về các dị tật ở trên mà chỉ xác định nguy cơ thai nhi mắc các dị tật này là cao hay thấp. Một kết quả nguy cơ cao không có nghĩa là thai nhi có dị tật và ngược lại một kết quả nguy cơ thấp không khẳng định thai nhi bình thường. <br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Hội chứng Down là gì?</span></span><br />
Hội chứng Down  là một bệnh do thừa một nhiễm sắc thể số 21. Trung bình trong khoảng từ 700 đến 1000 trẻ sơ sinh sẽ có 1 trẻ mắc bệnh này. Người bệnh bị chậm phát triển trí tuệ ở những mức độ khác nhau và có thể có kèm theo các dị tật của tim, ruột, bất thường trong khả năng nghe, nhìn v.v... Với trình độ y học hiện  nay,  người  mắc   hội chứng    Down  có  thể  sống  tới 40 - 50 tuổi.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Hội chứng Trisomy 18 là gì?</span></span><br />
Thể tam nhiễm sắc thể 18 còn gọi là hội chứng Edward xảy ra do thừa một nhiễm sắc thể số 18. Một số ít mắc hội chứng dưới dạng khảm hoặc do NST bị chuyển đoạn. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn ở nam. Trung bình trong khoảng 3000 trẻ sơ sinh sẽ có một trẻ mắc hội chứng này.<br />
Thai nhi mắc hội chứng này thường có những khuyết tật nghiêm trọng, đa số đều chết trước, trong hoặc ngay sau khi sinh. Chỉ có khoảng một nửa trẻ mắc thể tam nhiễm sắc thể 18 sống được tới một tháng và khoảng 10% trẻ sống được tới hơn một năm. Những trẻ này đều cần tới sự chăm sóc đặc biệt. Trẻ có trọng lượng sơ sinh thấp, khuôn mặt tròn, đầu nhỏ và hàm nhỏ, dị dạng tim, thận, chậm phát triển tâm thần, trẻ sơ sinh có ngón tay trỏ và tay út gập đè lên các ngón khác.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Hội chứng Trisomy 13 là gì?</span></span><br />
Thể tam nhiễm sắc thể 13 còn gọi là hội chứng Patau xảy ra do thừa một nhiễm sắc thể số 13. Một số ít mắc bệnh dưới dạng khảm hoặc do NST bị chuyển đoạn. Bệnh hiếm gặp, trung bình trong khoảng 25.000 trẻ sơ sinh sẽ có một trẻ mắc hội chứng này.<br />
Trẻ bị chậm phát triển tâm thần và mắc nhiều dị dạng như đầu nhỏ, thừa ngón tay chân, sứt môi – hở hàm, bất thường của tim, thành bụng v.v... Đại đa số thai nhi bị thể tam nhiễm sắc thể 13 đều chết trước, trong và ngay sau khi sinh. Đa số trẻ chết trong vòng vài ngày sau sinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">6. Dị tật ống thần kinh?</span></span><br />
Ống thần kinh là một cấu trúc phát triển trong những tuần đầu tiên của thai kì (khoảng 6 tuần sau ngày kinh cuối) tạo thành não và tủy sống của thai nhi. Tấm thần kinh khép dần lại tạo thành ống thần kinh. Nếu quá trình khép lại của tấm thần kinh diễn ra không hoàn toàn sẽ làm xuất hiện các loại dị tật hở của ống thần kinh. Có các dạng dị tật bẩm sinh phổ biến của ống thần kinh là tật nứt đốt sống, quái thai vô não và thoát vị não-màng não. Trung bình trong 1000 trẻ sinh ra có khoảng 2 trẻ mắc dị tật của ống thần kinh.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">7. Những sản phụ nào nên làm xét nghiệm Double test và Triple test?</span></span><br />
Tất cả các sản phụ đều nên làm xét nghiệm sàng lọc double test và triple test. Đặc biệt là những người có nguy cơ cao như:<br />
- Tuổi trên 35.<br />
- Đã từng sảy thai/thai chết lưu không rõ nguyên nhân.<br />
- Đã từng mang thai/sinh con có các dị tật di truyền.<br />
- Tiền sử gia đình có người sinh con dị tật.<br />
- Đái tháo đường, hút thuốc lá.<br />
- Nhiễm virus trong quá trình mang thai.<br />
- Có các biểu hiện hoặc nghi ngờ bất thường trên kết quả siêu âm<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">8. Xét nghiệm Double test và triple test được thực hiện ở thời điểm nào?</span></span><br />
- Xét nghiệm Double test được thực hiện từ tuần thai 11  đến 13 tuần 6 ngày. Tốt nhất ở tuần thai thứ 12 - 13.<br />
- Xét nghiệm Triple test được thực hiện ở tuần thai 15 đến 22. Tốt nhất ở khoảng tuần thai thứ 16 - 18.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">9. Double test xác định những chất gì trong máu mẹ?</span></span><br />
Double test xác định nồng độ 2 chất do thai nhi tiết ra vào trong máu mẹ là:<br />
- PAPPA –A (PAA).<br />
- Free Beta hCG (FBC).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">10. PAPPA –A (PAA)?</span></span><br />
- PAPP-A (Pregnancy Associated Plasma Protein A) là một loại glycoprotein do nhau thai bài tiết. Trong thai kỳ bình thường, nồng độ PAPP-A tăng dần trong suốt thai kỳ. Trong quý I của thai kỳ nếu thai nhi mắc hội chứng Down sẽ thấy nồng độ PAPP-A trong máu mẹ giảm, trong khi đó ở quý II nồng độ PAPP-A vẫn giữ ở mức bình thường hoặc chỉ hơi giảm do đó PAPP-A chỉ được dùng trong quý I của thai kỳ để sàng lọc thai nhi mắc hội chứng Down.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">11.  Free Beta hCG (FBC).</span></span><br />
FreeBeta hCG là một thành phần trong cấu trúc của hoocmôn hCG (human chorionic gonadotropin). hCG đầu tiên được các tế bào lá nuôi của trứng sau khi đã được thụ tinh tiết ra sau đó sẽ do nhau thai bài tiết. hCG có mặt trong huyết thanh của mẹ vào khoảng 6 đến 8 ngày sau khi trứng được thụ tinh và đạt tới nồng độ cao nhất sau từ 50 đến 80 ngày tính từ lần kinh cuối. hCG được cấu thành từ hai tiểu đơn vị là α (alpha) và β (bêta). Nếu thai nhi mắc hội chứng Down, nồng độ của tiểu đơn vị freeBeta hCG gia tăng đáng kể trong quý I và quý II của thai kỳ.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">12. Siêu âm đóng vai trò gì trong xét nghiệm Double test?</span></span><br />
Siêu âm đóng một vai trò rất quan trọng trong xét nghiệm Double test . Để xác định được các nguy cơ dị tật của thai ngoài việc xác định nồng độ của 2 chất trên còn cần phải kết hợp với kết quả siêu âm thai (đặc biệt kết quả siêu âm thai ở tuần thai 12). Kết quả siêu âm thai cần phải cho biết chính xác các thông tin sau:<br />
- Chiều dài đầu mông (CRL).<br />
- Khoảng sáng sau gáy hay độ mờ da gáy (NT).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">13. Triple test xác định những chất gì trong máu mẹ?</span></span><br />
Triple test xác định nồng độ 3 chất do thai nhi tiết vào trong máu mẹ là:<br />
- AFP (Alpha feto protein)<br />
- β hCG (Beta Human Chorionic gonadotropin)<br />
- uE3 (Unconjugated estriol).<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">14. AFP?</span></span><br />
AFP (alpha fetoprotein) là một loại glycôprôtêin có nguồn gốc bào thai, do túi noãn hoàng của phôi tổng hợp và sau đó được gan của thai nhi tổng hợp. AFP của bào thai đi vào máu mẹ bằng cách thấm qua màng ối và có mặt trong nước ối từ nước tiểu của thai nhi. Sự gia tăng của nồng độ AFP trong nước ối và trong máu mẹ liên quan đến nhiều dị tật của thai nhi đặc biệt là khuyết tật của ống thần kinh. Trong quý II của thai kỳ, sự sụt giảm nồng độ AFP được thấy trong khoảng 30% trường hợp thai nhi mắc hội chứng Down.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">15. β hCG?</span></span> <br />
- Là glucoprotein do tế bào lá nuôi bài tiết (xuất hiện vào ngày thứ 8).<br />
- Nồng độ β hCG đạt tối đa vào khoảng tuần thứ 8 -9.<br />
- Nồng độ β hCG tăng cao trong hộ chứng Down.<br />
- Nồng độ β hCG giảm trong hộ chứng Trisomy 18.<br />
<br />
<span style="color: #FF0000;" class="mycode_color"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">16. uE3?</span></span><br />
uE3 (unconjugated estriol: estriol không kết hợp, estriol tự do) là một loại steroid có nguồn gốc từ nhau thai. Trong huyết thanh của mẹ, estriol được đo dưới dạng không kết hơp uE3. Trong thai kỳ bình thường nồng độ của estriol tự do và estriol toàn phần tăng dần trong suốt thai kỳ. Trong trường hợp thai nhi mắc hội chứng Down, nồng độ của uE3 sẽ giảm.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Anti-CCP - xét nghiệm bổ sung giúp chẩn đoán chính xác viêm khớp dạng thấp]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-4480.html</link>
			<pubDate>Fri, 05 Dec 2014 09:08:22 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=26012">huonglandang</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-4480.html</guid>
			<description><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp là căn bệnh khá phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 1% dân số trên thế giới. Chấn đoán bệnh thường được xác định dựa trên kết quả xét nghiệm và một số biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân.<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp .<br />
<br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung.<br />
<br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn.<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e<br />
<br />
1. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
<br />
- Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
2. Giá trị bình thường:<br />
<br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng<br />
điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.<br />
<br />
Xem thêm: <a href="http://www.xetnghiemungthu.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Xét nghiệm ung thư</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp là căn bệnh khá phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 1% dân số trên thế giới. Chấn đoán bệnh thường được xác định dựa trên kết quả xét nghiệm và một số biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân.<br />
<br />
<br />
<br />
<br />
Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp .<br />
<br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung.<br />
<br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn.<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e<br />
<br />
1. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
<br />
- Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
2. Giá trị bình thường:<br />
<br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng<br />
điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.<br />
<br />
Xem thêm: <a href="http://www.xetnghiemungthu.com/" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url">Xét nghiệm ung thư</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Cystatin C: một dấu ấn mới của chức năng thận, tim mạch và thần kinh]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3864.html</link>
			<pubDate>Mon, 16 Jun 2014 13:33:49 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=990">phuhmtu</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3864.html</guid>
			<description><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Creatinin huyết thanh thường được sử dụng để đánh giá chức năng thận trong chẩn đoán và quản lý bệnh suy thận mạn. Tuy nhiên, xét nghiệm creatin huyết thanh có thể không chính xác trong suy thận giai đoạn sớm, đặc biệt ở bệnh nhân có khối lượng cơ thấp. <br />
<br />
Hiện nay, cystatin C là một protein ức chế protease không bị phụ thuộc vào khối lượng cơ,  đang được sử dụng chủ yếu như một dấu ấn sinh học của chức năng thận. Việc sử dụng cystatin C kết hợp với creatinin có thể làm tăng khả năng chẩn đoán bệnh thận giai đoạn cuối và tiên lượng nguy cơ tử vong. Cystatin C giúp đánh giá giai đoạn suy thận và xếp loại nguy cơ mắc bệnh thận mạn tốt hơn creatinin [3].  <br />
<br />
Cystatin C cũng được sử dụng trong dự đoán bệnh tim mạch mới khởi phát hoặc tình trạng xấu đi của bệnh tim mạch [9]. <br />
<br />
Cystatin C cũng còn được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi các rối loạn của não dạng bột (amyloid) - một type đặc biệt của sự lắng đọng protein - như bệnh Alzheimer [1]. <br />
<br />
1.  Sinh học của Cystatin C<br />
<br />
Một siêu họ (superfamily) của cystatin gồm các protein chứa nhiều chuỗi giống cystatin, trong đó một số có hoạt tính ức chế ​​ protease và một số khác không có hoạt tính này. Ba họ chất ức chế protease trong siêu họ này là cystatin type 1, cystatin type 2 và kininogen. Gen CST3 là một thành viên của họ gen cystatin, khu trú trên nhiễm sắc thể thứ 20, mã hóa cho cystatin C là các protein ức chế protease ngoại bào có số lượng lớn nhất trong số các cysteine protease. <br />
<br />
Cystatin C là một proten kiềm, gồm 120 gốc acid amin, không glycosyl hóa, có điểm đẳng điện ở pH 9,3, được tìm thấy ở hầu như tất cả các mô và dịch cơ thể. Cấu trúc của cystatin C gồm một chuỗi xoắn alpha ngắn và một chuỗi xoắn alpha dài nằm trên một bản beta chứa năm sợi lớn đối song song (xin xem hình 1)<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"> <img src="http://login.medlatec.vn/UserFiles/image/Y%20khoa%20MEDLATEC/cystatinC.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: cystatinC.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Hình 1. Cấu trúc phân tử cystatin C: chuỗi xoắn alpha ngắn chuỗi xoắn alpha dài (màu xanh) và 5 sợi beta đối song song (màu đỏ).</div>
 <br />
Cystatin C là một protein ức chế mạnh của các proteinase của lysosome và là một trong các chất ức chế ngoại bào quan trọng nhất trong số các cystein protease, có tác dụng ức chế sự thủy phân các protein ngoại bào.<br />
<br />
2. Chỉ định: xét nghiệm cystatin C được chỉ định trong các trường hợp:<br />
<br />
- Cystatin C là một dấu ấn sớm và nhạy đối với bệnh thận mạn (chronic kidney disease: CKD), có thể được chỉ định khi một người bị bệnh hoặc nghi bị bệnh mà có thể ảnh hưởng đến chức năng thận và làm giảm độ lọc cầu thận (glomerular filtration rate: GFR). Nó có thể được chỉ định khi bác sĩ chưa hài lòng với các kết quả của các xét nghiệm khác (như creatinine hoặc độ thanh thải creatinin) hoặc muốn kiểm tra các rối loạn chức năng thận sớm, đặc biệt là ở người cao tuổi, đái tháo đường, cao huyết áp, …, hoặc muốn theo dõi suy thận theo thời gian [7].<br />
<br />
- Cystatin C cũng được chỉ định kết hợp với creatinin huyết thanh và độ lọc cầu thận (GFR) để đánh giá về nguy cơ của bệnh thận giai đoạn cuối, rối loạn chức năng tim mạch, suy tim và nguy cơ tử vong [9]. <br />
<br />
- Nghi ngờ bệnh nhân bị vữa xơ động mạch và các tổn thương phình mạch của động mạch chủ [6].<br />
- Bệnh nhân bị ghi ngờ có rối loạn chức năng hệ thần kinh [1].<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng:<br />
<br />
Bình thường, mức độ cystatin C huyết thanh ở trẻ sinh cao, giảm dần cho đến 1 tuổi rồi tương đối ổn định ở tuổi trưởng thành, sau đó tăng trở lại khi ngoài 50 tuổi. <br />
<br />
Mức độ cystatin C trong huyết thanh ở người khỏe mạnh lứa tuổi trưởng thành là 0,52 - 0,98 mg/ L, ở phụ nữ là 0,52-0,90 mg / L và ở nam giới là 0,56-0,98 mg/ L [2], ở người dưới 50 tuổi là 0,53- 0,92 mg/ L và ở người trên 50 tuổi là 0,58-1,02 mg/ L [4]. <br />
<br />
Khác với creatinin, cystatin C được tái hấp thu sau khi được lọc qua cầu thận nhưng lại được chuyển hóa hết thành các acid amin ở thận nên nó không có trong nước tiểu. <br />
<br />
3.1. Mức độ cystatin C huyết thanh được sử dụng để đánh giá chức năng thận<br />
<br />
Độ lọc cầu thận (GFR) là một dấu ấn tốt để đánh giá chức năng của  thận nhưng ít được sử dụng vì cách đo phức tạp, đắt tiền, tốn thời gian và đôi khi gây tác dụng phụ. <br />
<br />
Còn creatinine huyết thanh thường được sử dụng để đánh giá chức năng thận nhưng ít chính xác khi mới suy thận, khối lượng cơ của cơ thể thấp và bị phụ thuộc vào lượng protein chế độ ăn. <br />
<br />
Trong khi đó, cystatin C là một protein có khối lượng phân tử thấp (13,3 kDa), được tách khỏi máu nhờ sự lọc của cầu thận. Mức độ cystatin C không bị phụ thuộc vào khối lượng cơ của cơ thể và vào lượng protein chế độ ăn Nếu chức năng thận và độ lọc cầu thận giảm, mức độ cystatin C trong máu sẽ tăng. Vì vậy, mức độ cystatin C là một xét nghiệm chính xác hơn cho chức năng thận so với mức độ creatinine huyết thanh [3]. Mức độ cystatin C huyết thanh có thể cho phép dự đoán nguy cơ phát triển bệnh thận mạn, do đó có vai trò báo hiệu một rối loạn chức năng thận ở giai đoạn tiền lâm sàng (preclinical) [7]. Mức độ cystatin C huyết thanh còn có thể  là một dấu hiệu của chức năng thận giúp điều chỉnh liều lượng thuốc. <br />
<br />
3.2. Cystatin C huyết thanh được sử dụng để đánh giá bệnh tim mạch và nguy cơ tử vong<br />
<br />
Rối loạn chức năng thận có thể làm tăng nguy cơ tử vong và bệnh tim mạch [8]. Một số nghiên cứu cho thấy mức độ tăng của cystatin C có liên quan đến nguy cơ tử vong, đến một số loại bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim, bệnh động mạch ngoại biên và hội chứng chuyển hóa và sự lão hóa. Một số nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng cystatin C để đánh giá chức năng thận trong trong các bệnh này tốt hơn so với creatinine huyết thanh hoặc mức lọc cầu thận GFR đo bằng creatinine nội sinh [9]. <br />
<br />
3.3. Cystatin C huyết thanh được sử dụng để chẩn đoán rối loạn chức năng hệ thần kinh: <br />
<br />
Các đột biến ở gen cystatin 3 chịu trách nhiệm cho bệnh thoái hóa dạng bột di truyền của mạch máu não, một tình trạng dẫn đến xuất huyết não, đột quỵ và mất trí nhớ. Cystatin C cũng có thể gắn vào dạng bột β, làm giảm sự tổng hợp và lắng đọng của nó, từ đó dẫn tới bệnh Alzheimer. Một số bằng chứng cũng ủng hộ là vai trò của CST3 như một gen nhạy cảm đối với bệnh Alzheimer: mức độ cystatin C huyết thanh tăng trong bệnh Alzheimer [1]. <br />
<br />
3.4. Sự thay đổi mức độ cystatin C trong huyết thanh và ở mô trong một số bệnh khác<br />
<br />
Mức độ cystatin C huyết thanh giảm trong vữa xơ động mạch và các tổn thương phình mạch của động mạch chủ [6]. Sự phá vỡ các phần của thành mạch trong các bệnh này được cho là kết quả của sự mất cân bằng giữa proteinases: các cysteine metalloproteinase của chất nền (matrix) tăng và chất ức chế của chúng như cystatin C giảm. <br />
<br />
Ngoài ra, mức độ cystatin C huyết thanh tăng phụ thuộc tuổi ở các bệnh nhân cao tuổi bị ung thư phổi thể hiện sự suy giảm chức năng thận, điều này liên quan trực tiếp với những biến chứng do sử dụng thuốc trong điều trị ung thư [5]. <br />
               <br />
  TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
<br />
1. Chuo LJ, Sheu WH, Pai MC, Kuo YM. Genotype and plasma concentration of cystatin C in patients with late-onset Alzheimer disease. Dement Geriatr Cogn Disord 2007; 23 (4): 251-257. <br />
2. Croda-Todd MT, Soto-Montano XJ, Hernández-Cancino PA, Juárez-Aguilar E. Adult cystatin C reference intervals detemined by nephelometric immunoassay. Clin Biochem 2007; 40 (13-14): 1084-1087.<br />
3. Dharnidharka VR, Kwon C, Stevens G. Serum cystatin C is superior to serum creatinine as a marker of kidney function: a meta-analysis. Am J Kidney Dis 2002; 40(2): 221–226.<br />
4. Finney H, Newman DJ, Price CP. Adult reference ranges for serum cystatin C, creatinine and predicted creatinine clearance. Ann Clin Biochem 2000; 37(1): 49-59.<br />
5. Ohara G, Miyazaki K, Kurishima K, et al. Serum levels of cystatin C in elderly lung cancer patients. Oncol Lett 2012; 3(2): 303-306.<br />
6. Shi GP, Sukhova GK, Grubb A et al. Cystatin C deficiency in human atherosclerosis and aortic aneurysms. J Clin Invest 1999; 104(9): 1191-1197.<br />
7. Shlipak MG, Katz R, Sarnak MJ et al. Cystatine C and prognosis for cardiovascular and kidney outcomes in elderly persons without chronic kidney disease. Annals of Internal Medicine 2006; 145(4): 237-246.<br />
8. Tonelli M, Wiebe N, Culleton B et al. Chronic kidney disease and mortality risk: a systematic review.  J Am Soc Nephrol 2006; 17(7): 2034-2047.<br />
9. Zethelius B, Berglund L, Sundström J et al. Use of multiple biomarkers to improve the prediction of death from cardiovascular causes. N Engl J Med 2008; 358(20): 2107-2116. <br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Creatinin huyết thanh thường được sử dụng để đánh giá chức năng thận trong chẩn đoán và quản lý bệnh suy thận mạn. Tuy nhiên, xét nghiệm creatin huyết thanh có thể không chính xác trong suy thận giai đoạn sớm, đặc biệt ở bệnh nhân có khối lượng cơ thấp. <br />
<br />
Hiện nay, cystatin C là một protein ức chế protease không bị phụ thuộc vào khối lượng cơ,  đang được sử dụng chủ yếu như một dấu ấn sinh học của chức năng thận. Việc sử dụng cystatin C kết hợp với creatinin có thể làm tăng khả năng chẩn đoán bệnh thận giai đoạn cuối và tiên lượng nguy cơ tử vong. Cystatin C giúp đánh giá giai đoạn suy thận và xếp loại nguy cơ mắc bệnh thận mạn tốt hơn creatinin [3].  <br />
<br />
Cystatin C cũng được sử dụng trong dự đoán bệnh tim mạch mới khởi phát hoặc tình trạng xấu đi của bệnh tim mạch [9]. <br />
<br />
Cystatin C cũng còn được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi các rối loạn của não dạng bột (amyloid) - một type đặc biệt của sự lắng đọng protein - như bệnh Alzheimer [1]. <br />
<br />
1.  Sinh học của Cystatin C<br />
<br />
Một siêu họ (superfamily) của cystatin gồm các protein chứa nhiều chuỗi giống cystatin, trong đó một số có hoạt tính ức chế ​​ protease và một số khác không có hoạt tính này. Ba họ chất ức chế protease trong siêu họ này là cystatin type 1, cystatin type 2 và kininogen. Gen CST3 là một thành viên của họ gen cystatin, khu trú trên nhiễm sắc thể thứ 20, mã hóa cho cystatin C là các protein ức chế protease ngoại bào có số lượng lớn nhất trong số các cysteine protease. <br />
<br />
Cystatin C là một proten kiềm, gồm 120 gốc acid amin, không glycosyl hóa, có điểm đẳng điện ở pH 9,3, được tìm thấy ở hầu như tất cả các mô và dịch cơ thể. Cấu trúc của cystatin C gồm một chuỗi xoắn alpha ngắn và một chuỗi xoắn alpha dài nằm trên một bản beta chứa năm sợi lớn đối song song (xin xem hình 1)<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"> <img src="http://login.medlatec.vn/UserFiles/image/Y%20khoa%20MEDLATEC/cystatinC.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: cystatinC.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Hình 1. Cấu trúc phân tử cystatin C: chuỗi xoắn alpha ngắn chuỗi xoắn alpha dài (màu xanh) và 5 sợi beta đối song song (màu đỏ).</div>
 <br />
Cystatin C là một protein ức chế mạnh của các proteinase của lysosome và là một trong các chất ức chế ngoại bào quan trọng nhất trong số các cystein protease, có tác dụng ức chế sự thủy phân các protein ngoại bào.<br />
<br />
2. Chỉ định: xét nghiệm cystatin C được chỉ định trong các trường hợp:<br />
<br />
- Cystatin C là một dấu ấn sớm và nhạy đối với bệnh thận mạn (chronic kidney disease: CKD), có thể được chỉ định khi một người bị bệnh hoặc nghi bị bệnh mà có thể ảnh hưởng đến chức năng thận và làm giảm độ lọc cầu thận (glomerular filtration rate: GFR). Nó có thể được chỉ định khi bác sĩ chưa hài lòng với các kết quả của các xét nghiệm khác (như creatinine hoặc độ thanh thải creatinin) hoặc muốn kiểm tra các rối loạn chức năng thận sớm, đặc biệt là ở người cao tuổi, đái tháo đường, cao huyết áp, …, hoặc muốn theo dõi suy thận theo thời gian [7].<br />
<br />
- Cystatin C cũng được chỉ định kết hợp với creatinin huyết thanh và độ lọc cầu thận (GFR) để đánh giá về nguy cơ của bệnh thận giai đoạn cuối, rối loạn chức năng tim mạch, suy tim và nguy cơ tử vong [9]. <br />
<br />
- Nghi ngờ bệnh nhân bị vữa xơ động mạch và các tổn thương phình mạch của động mạch chủ [6].<br />
- Bệnh nhân bị ghi ngờ có rối loạn chức năng hệ thần kinh [1].<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng:<br />
<br />
Bình thường, mức độ cystatin C huyết thanh ở trẻ sinh cao, giảm dần cho đến 1 tuổi rồi tương đối ổn định ở tuổi trưởng thành, sau đó tăng trở lại khi ngoài 50 tuổi. <br />
<br />
Mức độ cystatin C trong huyết thanh ở người khỏe mạnh lứa tuổi trưởng thành là 0,52 - 0,98 mg/ L, ở phụ nữ là 0,52-0,90 mg / L và ở nam giới là 0,56-0,98 mg/ L [2], ở người dưới 50 tuổi là 0,53- 0,92 mg/ L và ở người trên 50 tuổi là 0,58-1,02 mg/ L [4]. <br />
<br />
Khác với creatinin, cystatin C được tái hấp thu sau khi được lọc qua cầu thận nhưng lại được chuyển hóa hết thành các acid amin ở thận nên nó không có trong nước tiểu. <br />
<br />
3.1. Mức độ cystatin C huyết thanh được sử dụng để đánh giá chức năng thận<br />
<br />
Độ lọc cầu thận (GFR) là một dấu ấn tốt để đánh giá chức năng của  thận nhưng ít được sử dụng vì cách đo phức tạp, đắt tiền, tốn thời gian và đôi khi gây tác dụng phụ. <br />
<br />
Còn creatinine huyết thanh thường được sử dụng để đánh giá chức năng thận nhưng ít chính xác khi mới suy thận, khối lượng cơ của cơ thể thấp và bị phụ thuộc vào lượng protein chế độ ăn. <br />
<br />
Trong khi đó, cystatin C là một protein có khối lượng phân tử thấp (13,3 kDa), được tách khỏi máu nhờ sự lọc của cầu thận. Mức độ cystatin C không bị phụ thuộc vào khối lượng cơ của cơ thể và vào lượng protein chế độ ăn Nếu chức năng thận và độ lọc cầu thận giảm, mức độ cystatin C trong máu sẽ tăng. Vì vậy, mức độ cystatin C là một xét nghiệm chính xác hơn cho chức năng thận so với mức độ creatinine huyết thanh [3]. Mức độ cystatin C huyết thanh có thể cho phép dự đoán nguy cơ phát triển bệnh thận mạn, do đó có vai trò báo hiệu một rối loạn chức năng thận ở giai đoạn tiền lâm sàng (preclinical) [7]. Mức độ cystatin C huyết thanh còn có thể  là một dấu hiệu của chức năng thận giúp điều chỉnh liều lượng thuốc. <br />
<br />
3.2. Cystatin C huyết thanh được sử dụng để đánh giá bệnh tim mạch và nguy cơ tử vong<br />
<br />
Rối loạn chức năng thận có thể làm tăng nguy cơ tử vong và bệnh tim mạch [8]. Một số nghiên cứu cho thấy mức độ tăng của cystatin C có liên quan đến nguy cơ tử vong, đến một số loại bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy tim, bệnh động mạch ngoại biên và hội chứng chuyển hóa và sự lão hóa. Một số nghiên cứu cũng cho thấy việc sử dụng cystatin C để đánh giá chức năng thận trong trong các bệnh này tốt hơn so với creatinine huyết thanh hoặc mức lọc cầu thận GFR đo bằng creatinine nội sinh [9]. <br />
<br />
3.3. Cystatin C huyết thanh được sử dụng để chẩn đoán rối loạn chức năng hệ thần kinh: <br />
<br />
Các đột biến ở gen cystatin 3 chịu trách nhiệm cho bệnh thoái hóa dạng bột di truyền của mạch máu não, một tình trạng dẫn đến xuất huyết não, đột quỵ và mất trí nhớ. Cystatin C cũng có thể gắn vào dạng bột β, làm giảm sự tổng hợp và lắng đọng của nó, từ đó dẫn tới bệnh Alzheimer. Một số bằng chứng cũng ủng hộ là vai trò của CST3 như một gen nhạy cảm đối với bệnh Alzheimer: mức độ cystatin C huyết thanh tăng trong bệnh Alzheimer [1]. <br />
<br />
3.4. Sự thay đổi mức độ cystatin C trong huyết thanh và ở mô trong một số bệnh khác<br />
<br />
Mức độ cystatin C huyết thanh giảm trong vữa xơ động mạch và các tổn thương phình mạch của động mạch chủ [6]. Sự phá vỡ các phần của thành mạch trong các bệnh này được cho là kết quả của sự mất cân bằng giữa proteinases: các cysteine metalloproteinase của chất nền (matrix) tăng và chất ức chế của chúng như cystatin C giảm. <br />
<br />
Ngoài ra, mức độ cystatin C huyết thanh tăng phụ thuộc tuổi ở các bệnh nhân cao tuổi bị ung thư phổi thể hiện sự suy giảm chức năng thận, điều này liên quan trực tiếp với những biến chứng do sử dụng thuốc trong điều trị ung thư [5]. <br />
               <br />
  TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
<br />
1. Chuo LJ, Sheu WH, Pai MC, Kuo YM. Genotype and plasma concentration of cystatin C in patients with late-onset Alzheimer disease. Dement Geriatr Cogn Disord 2007; 23 (4): 251-257. <br />
2. Croda-Todd MT, Soto-Montano XJ, Hernández-Cancino PA, Juárez-Aguilar E. Adult cystatin C reference intervals detemined by nephelometric immunoassay. Clin Biochem 2007; 40 (13-14): 1084-1087.<br />
3. Dharnidharka VR, Kwon C, Stevens G. Serum cystatin C is superior to serum creatinine as a marker of kidney function: a meta-analysis. Am J Kidney Dis 2002; 40(2): 221–226.<br />
4. Finney H, Newman DJ, Price CP. Adult reference ranges for serum cystatin C, creatinine and predicted creatinine clearance. Ann Clin Biochem 2000; 37(1): 49-59.<br />
5. Ohara G, Miyazaki K, Kurishima K, et al. Serum levels of cystatin C in elderly lung cancer patients. Oncol Lett 2012; 3(2): 303-306.<br />
6. Shi GP, Sukhova GK, Grubb A et al. Cystatin C deficiency in human atherosclerosis and aortic aneurysms. J Clin Invest 1999; 104(9): 1191-1197.<br />
7. Shlipak MG, Katz R, Sarnak MJ et al. Cystatine C and prognosis for cardiovascular and kidney outcomes in elderly persons without chronic kidney disease. Annals of Internal Medicine 2006; 145(4): 237-246.<br />
8. Tonelli M, Wiebe N, Culleton B et al. Chronic kidney disease and mortality risk: a systematic review.  J Am Soc Nephrol 2006; 17(7): 2034-2047.<br />
9. Zethelius B, Berglund L, Sundström J et al. Use of multiple biomarkers to improve the prediction of death from cardiovascular causes. N Engl J Med 2008; 358(20): 2107-2116. <br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Pepsinogen I, II: những dấu ấn có giá trị để phát hiện sớm ung thư dạ dày]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3863.html</link>
			<pubDate>Mon, 16 Jun 2014 13:26:03 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=990">phuhmtu</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3863.html</guid>
			<description><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Ung thư dạ dày (gastric cancer hay gastric adenocarcinoma) là loại ung thư hay gặp thứ tư và là nguyên nhân tử vong thứ hai do ung thư. Phần lớn các ung thư dạ dày xuất phát từ niêm mạc, các ung thư có vị trí khởi phát khác nhau có thể biểu hiện các triệu chứng và diễn biến khác nhau, từ đó dẫn đến cách điều trị và tiên lượng khác nhau. Nói chung, ung thư dạ dày là bệnh của người già, nam mắc nhiều hơn nữ (tỷ lệ 2:1), tuy nhiên, ở bệnh nhân trẻ thì tỷ lệ nam nữ bằng nhau. Ung thư dạ dày là một bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau: chủng tộc, nhiễm Helicobacter pylori, môi trường (ví dụ N.nitroso),… Việc chẩn đoán ung thư dạ dày giai đoạn sớm thực sự đã làm tăng tỷ lệ chữa khỏi và làm giảm tỷ lệ tử vong một cách rất đáng kể. Xét nghiệm pepsinogen I, II huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp thực hiện được điều đó.<br />
<br />
1.  Sinh học của pepsinogen<br />
<br />
Pepsinogen (PG) là tiền enzyme (proenzyme) của pepsin - một enzyme thủy phân protein - được bài tiết bởi các tế bào niêm mạc của dạ dày. Pepsinogen là một protein gồm 375 gốc acid amin, có khối lượng phân tử 42 kDa. Pepsinogen được tồn tại dưới hai dạng: pepsinogen I (PG I) và pepsinogen II (PG II). Pepsinogen I được tổng hợp bởi các tế bào chính của niêm mạc ở vùng đáy dạ dày, trong khi PG II được tổng hợp bởi các tế bào niêm mạc của tất cả các vùng tâm vị, vùng đáy, vùng  hang vị và của hành tá tràng (xem hình 1).<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://login.medlatec.vn/UserFiles/image/Y%20khoa%20MEDLATEC/Pepsinogen.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Pepsinogen.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Hình 1. Sự sản xuất pepsinogen I (màu đỏ) và pepsinogen 2 (màu vàng) ở các vùng khác nhau của dạ dày và hành tá tràng: 1: vùng tâm vị, 2: vùng đáy, 3: vùng môn vị, 4: vùng hành tá tràng.</div>
<br />
Pepsinogen không chỉ được tiết vào trong lòng dạ dày, được thủy phân thành pepsin nhờ tác dụng hoạt hóa của acid chlohydric của dạ dày để thủy phân protein thức ăn, mà một phần nhỏ còn được bài tiết vào máu. Mức độ của hai loại pepsinogen I và II huyết thanh phản ánh tình trạng hình thái và chức năng của các phần khác nhau của niêm mạc dạ dày-hành tá tràng. Khi hoạt động của niêm mạc vùng đáy dạ dày bị giảm, mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm, trái lại mức độ PGII huyết thanh không thay đổi. Kết quả là sự giảm dần của tỷ số PGI/PGII liên quan chặt chẽ với sự tiến triển tăng dần từ niệm mạc vùng đáy bình thường thành viêm teo dạ dày, lúc này số lượng tế bào chính giảm đi. Chính vì vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ và phát hiện sớm ung thư dạ dày ở những bệnh nhân.<br />
 <br />
2. Chỉ định của xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/PGII<br />
<br />
- Xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/II được sử dụng để sàng lọc và chẩn đoán ung thư dạ dày nên thường được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng sớm của ung thư dạ dày như:<br />
+ Khó tiêu dai dẳng<br />
+ Ợ hơi<br />
+ Cảm thấy no rất nhanh khi ăn<br />
+ Đầy hơi sau khi ăn<br />
+ Mệt mỏi<br />
+ Đau vùng thượng vị<br />
+ Nôn<br />
-  Xét nghiệm này cũng có thể được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng muộn của ung thư dạ dày như:<br />
+ Xuất hiện máu trong phân hoặc phân đen<br />
+ Ăn mất ngon<br />
+ Giảm cân<br />
+ Ứ dịch trong dạ dày<br />
+ Thiếu máu<br />
+ Vàng da, vàng mắt<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng của xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/PGII <br />
<br />
Giá trị bình thường của mức độ pepsinogen I huyết thanh ở những người khỏe mạnh bình thường được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới là &gt; 70 ng/mL, của pepsinogen II là  7,5 ng/mL và của tỷ lệ PGI/II là &gt; 3 [2, 3, 4, 5, 6, 8, 11]. Mức độ pepsinogen I, pepsinogen II và tỷ lệ PGI/II không khác nhau theo tuổi và giới.<br />
<br />
Mức độ pepsinogen I huyết thanh với giá trị cắt (cut-off) ≤ 70 ng/mL được xem là giá trị (+) tính đối với các bệnh tiền ung thư (precancerous diseases of stomach) và ung thư dạ dày [5].<br />
<br />
Tỷ lệ PGI/II với giá trị cắt là  ≤ 3 được xem là giá trị (+) tính đối với các bệnh tiền ung thư và ung thư dạ dày [5].<br />
<br />
Về ung thư dạ dày, người ta đã xác định được quá trình tổn thương về tế bào bệnh học diễn biến theo thứ tự sau: viêm dạ dày mạn (chronic gastritis), viêm teo dạ dày mạn (atrophic chronic gastritis), dị sản (metaplasia) và loạn sản (dysplasia). Vậy mức độ pepsinogen I, II huyết thanh và tỷ lệ PGI/PGII thay đổi như thế nào trong quá trình tiến triển của ung thư dạ dày?<br />
<br />
Ỏ bệnh nhân bị các bệnh dạ dày lành tính như viêm, loét dạ dày hoặc tá tràng, các công trình nghiên cứu cho thấy không có sự thay đổi có ý nghĩa về mức độ pepsinogen I ở những bệnh nhân bị loét dạ dày, viêm dạ dày do H.pylori, bệnh dạ dày do tăng áp lực tĩnh mạch cửa (portal hypotensive gastropathy), chứng khó tiêu không có loét (non-ulcer dyspepsia-NUD) và viêm trợt dạ dày (erosive gastritis) so người khỏe mạnh bình thường. Tuy nhiên, cũng có công trình nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân bị loét dạ dày (peptic ulcer) hoặc loét hành tá tràng do nhiễm H.pylori, mức độ pepsinogen I huyết thanh cao hơn so với ở người bình thường [1, 12]. <br />
<br />
Ở bệnh nhân bị viêm teo dạ dày (atrophic gastritis), mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm một cách có ý nghĩa trong khi mức độ pepsinogen II huyết thanh hầu như không thay đổi. Trong viêm teo dạ dày nặng (severe), mức độ pepsinogen I huyết thanh có thể giảm xuống dưới 20 ng/mL, tùy thuộc vào mức độ tổn thương niêm mạc do viêm teo. Độ nhạy và độ nhạy chẩn đoán viêm teo dạ dày của mức độ pepsinogen I huyết thanh tương ứng là 92% và 90%. Có sự giảm một cách có ý nghĩa mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PG I/ II ở những bệnh nhân viêm teo dạ dày so với ở những bệnh nhân viêm dạ dày lớp nông (superficial) hoặc viêm dạ dày mà niêm mạc hãy còn bình thường [1, 12]. Như vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PG I/ II có thể được sử dụng như những dấu ấn cho chẩn đoán các tổn thương dạ dày tiền ung thư (premalignant gastric lesions) [8], điều này có thể giúp sàng lọc để chẩn đoán sớm nguy cơ ung thư dạ dày.<br />
<br />
Đối với ung thư dạ dày (gastric cancer hoặc gastric adenocarcinogen), khối u thường phát triển ở niêm mạc dạ dày do tác động của viêm teo dạ dày mạn tính. Vì vậy, việc định lượng các pepsinogen huyết thanh có thể được xem như một “sinh thiết huyết thanh” (serological biopsy), cho phép phát hiện sớm các bệnh nhân ung thư dạ dày. Nhiều công trình nghiên cứu [1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,12] ở nhiều nước, trong một thời gian dài với nhiều nghìn bệnh nhân ung thư dạ dày đã cho thấy mức độ pepsinogen I huyết thanh của bệnh nhân ung thư dạ dày giảm một cách có ý nghĩa rõ rệt, trong khi hầu như không có sự thay đổi có ý nghĩa của mức độ pepsinogen II huyết thanh ở bệnh nhân ung thư dạ dày so với ở  người bình thường. Vì vậy, tỷ lệ PGI/II ở bệnh nhân ung thư dạ dày cũng giảm một cách có ý nghĩa so với các giá trị này ở người bình thường. Đối với mức độ nặng của ung thư dạ dày, các giá trị pepsinogen I và tỷ lệ PGI/II giảm nhiều hơn một cách có ý nghĩa ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển so với ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm [1].<br />
<br />
Để chẩn đoán phân biệt ung thư dạ dày với các bệnh dạ dày khác, Zhang XM và cộng sự (2014) [12] đã so sánh mức độ pepsinogen I, II và tỷ số PGI/II của các bệnh nhân bị các bệnh dạ dày (như viêm dạ dày thể không teo hoặc teo mạn tính, loét dạ dày hoặc hành tá tràng, ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển) với các mức độ này của người khỏe mạnh đã thấy rằng các bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển có mức độ pepsinogen I và tỷ số PGI/II thấp hơn một cách có ý nghĩa so với các giá trị này ở người bình thường (với P&lt;0,005). So với các bệnh nhân bị viêm teo dạ dày, các bệnh nhân bị ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển cũng có mức độ pepsinogen I và tỷ lệ PGI/II thấp hơn một cách có ý nghĩa (p&lt;0,001). Nếu lấy giá trị cắt của pepsinogen I ≤ 70 ng/mL và lấy tỷ lệ PGI/II ≤ 6, độ nhạy và độ đặc hiệu của chẩn đoán ung thư dạ dày tương ứng sẽ là 62,1 và 94,2%. <br />
<br />
<br />
Như vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II là những yếu tố nguy cơ của ung thư dạ dày. Việc sử dụng kết hợp mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp chẩn đoán sớm ung thư dạ dày. Tuy nhiên, một khi xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II (+) tính, để khẳng định chẩn đoán ung thư dạ dày, điều cần thiết là cần xét nghiệm thêm một số dấu ấn ung thư dạ dày khác như CA 72-4, CA 19-9, CEA, cũng như nội soi dạ dày tìm khối u và sinh thiết các vị trí nghi ngờ ung thư trên khối u để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học.<br />
<br />
KẾT LUẬN<br />
<br />
1. Sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh với giá trị cắt (cut-off) là ≤ 70 ng/mL và tỷ lệ PGI/II ≤ 3 là dấu ấn của các tổn thương tiền ung thư và ung thư dạ dày. <br />
<br />
2. Xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được chỉ định để chẩn đoán ung thư dạ dày ở những bệnh nhân có các triệu chứng ung thư dạ dày.<br />
<br />
3. Sự kết hợp giữa mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp chẩn đoán phân biệt ung thư dạ dày với các bệnh dạ dày lành tính khác.<br />
<br />
4. Xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được sử dụng để sàng lọc trong cộng đồng nhằm phát hiện sớm tiền ung thư và ung thư dạ dày do xét nghiệm này dễ kết hợp với các phương pháp sàng lọc khác, cách thực hiện đơn giản và giá thành rẻ.<br />
 <br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
Cao Q, Ran ZH, Xiao SD. Screening of atrophic gastritis and gastric cancer by serum pepsinogen, gastrin-17 and Helicobacter pylori immunoglobulin G antibodies. J Dig Dis 2007; 8(1): 15-22.<br />
Kang JM, Kim N, Yoo IY, et al. The role of serum pepsinogen and gastrin test for the detection of gastric cancer in Korea. Helicobacter 2008 Apr; 13(2): 146-156.<br />
Kitahara F, Kobayashi K, Sato T, et al. Accuracy of screening for gastric cancer using serum pepsinogen concentrations. Gut 1999; 44: 693-697.<br />
Lomba-Viana R, Dinis-Ribeiro M, Fonseca F, et al. Serum pepsinogen test for early detection of gastric cancer in a European country. Eur Gastroenterol Hepatol 2012 Jan; 24(1): 37-41.<br />
Mahmood R, Nahla G, Kalida AL. The role of pepsinogen test among the patients with gastric cancer. J Fac Med Baghdad 2010; 52(2): 193-197.<br />
Masjedizadeh AR, Hajiani E, Alavinejad P, et al. Diagnostic Value of Pepsinogen I and II for Pre-cancerous Gastric Lesions in Dyspeptic Patients. J Gastroenterol Hepatol Res 2013; 2(1): 269-273.<br />
Miki K, Ichinose M, Kawamura N, et al. The significance of low serum pepsinogen levels to detect stomach cancer associated with extensive chronic gastritis in Japanese subjects. Jpn J cancer Res 1989 Feb; 80(2): 111-114.<br />
Miki K. Gastric cancer screening using the serum pepsinogen test method. Gastric cancer 2006; 9(4): 245-253.<br />
Miki K, Fujishiro M, Kodashima S, Yahagi N. Long-term results of gastric cancer screening using the serum pepsinogen test method among an asymptomatic middle-aged Japanese population. Dig Endosc 2009 Apr; 21(2): 78-81.<br />
Mukoubayashi C, Yanaoka K, Ohata H, et al. Serum pepsinogen and gastric cancer screening. Intern Med 2007; 46(6): 261-266.<br />
Ubukara H, Konishi S, Nakachi T, et al. Characteristics of the serum pepsinogen (PG) test, and the relationship between Pg test results and gastric cancer outcomes. Scand J Surg 2010; 99(4): 201-207. <br />
Zhang XM, Li JX, Zhang GY, et al. The value of serum pepsinogen levels for the diagnosis of gastric diseases in Chinese Han people in midsouth China. BMC Gastroenterology 2014, 14: 13-18.<br />
<br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Ung thư dạ dày (gastric cancer hay gastric adenocarcinoma) là loại ung thư hay gặp thứ tư và là nguyên nhân tử vong thứ hai do ung thư. Phần lớn các ung thư dạ dày xuất phát từ niêm mạc, các ung thư có vị trí khởi phát khác nhau có thể biểu hiện các triệu chứng và diễn biến khác nhau, từ đó dẫn đến cách điều trị và tiên lượng khác nhau. Nói chung, ung thư dạ dày là bệnh của người già, nam mắc nhiều hơn nữ (tỷ lệ 2:1), tuy nhiên, ở bệnh nhân trẻ thì tỷ lệ nam nữ bằng nhau. Ung thư dạ dày là một bệnh do nhiều nguyên nhân khác nhau: chủng tộc, nhiễm Helicobacter pylori, môi trường (ví dụ N.nitroso),… Việc chẩn đoán ung thư dạ dày giai đoạn sớm thực sự đã làm tăng tỷ lệ chữa khỏi và làm giảm tỷ lệ tử vong một cách rất đáng kể. Xét nghiệm pepsinogen I, II huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp thực hiện được điều đó.<br />
<br />
1.  Sinh học của pepsinogen<br />
<br />
Pepsinogen (PG) là tiền enzyme (proenzyme) của pepsin - một enzyme thủy phân protein - được bài tiết bởi các tế bào niêm mạc của dạ dày. Pepsinogen là một protein gồm 375 gốc acid amin, có khối lượng phân tử 42 kDa. Pepsinogen được tồn tại dưới hai dạng: pepsinogen I (PG I) và pepsinogen II (PG II). Pepsinogen I được tổng hợp bởi các tế bào chính của niêm mạc ở vùng đáy dạ dày, trong khi PG II được tổng hợp bởi các tế bào niêm mạc của tất cả các vùng tâm vị, vùng đáy, vùng  hang vị và của hành tá tràng (xem hình 1).<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://login.medlatec.vn/UserFiles/image/Y%20khoa%20MEDLATEC/Pepsinogen.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Pepsinogen.jpg]" class="mycode_img" /><br />
Hình 1. Sự sản xuất pepsinogen I (màu đỏ) và pepsinogen 2 (màu vàng) ở các vùng khác nhau của dạ dày và hành tá tràng: 1: vùng tâm vị, 2: vùng đáy, 3: vùng môn vị, 4: vùng hành tá tràng.</div>
<br />
Pepsinogen không chỉ được tiết vào trong lòng dạ dày, được thủy phân thành pepsin nhờ tác dụng hoạt hóa của acid chlohydric của dạ dày để thủy phân protein thức ăn, mà một phần nhỏ còn được bài tiết vào máu. Mức độ của hai loại pepsinogen I và II huyết thanh phản ánh tình trạng hình thái và chức năng của các phần khác nhau của niêm mạc dạ dày-hành tá tràng. Khi hoạt động của niêm mạc vùng đáy dạ dày bị giảm, mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm, trái lại mức độ PGII huyết thanh không thay đổi. Kết quả là sự giảm dần của tỷ số PGI/PGII liên quan chặt chẽ với sự tiến triển tăng dần từ niệm mạc vùng đáy bình thường thành viêm teo dạ dày, lúc này số lượng tế bào chính giảm đi. Chính vì vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ và phát hiện sớm ung thư dạ dày ở những bệnh nhân.<br />
 <br />
2. Chỉ định của xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/PGII<br />
<br />
- Xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/II được sử dụng để sàng lọc và chẩn đoán ung thư dạ dày nên thường được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng sớm của ung thư dạ dày như:<br />
+ Khó tiêu dai dẳng<br />
+ Ợ hơi<br />
+ Cảm thấy no rất nhanh khi ăn<br />
+ Đầy hơi sau khi ăn<br />
+ Mệt mỏi<br />
+ Đau vùng thượng vị<br />
+ Nôn<br />
-  Xét nghiệm này cũng có thể được chỉ định khi bệnh nhân có các triệu chứng muộn của ung thư dạ dày như:<br />
+ Xuất hiện máu trong phân hoặc phân đen<br />
+ Ăn mất ngon<br />
+ Giảm cân<br />
+ Ứ dịch trong dạ dày<br />
+ Thiếu máu<br />
+ Vàng da, vàng mắt<br />
<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng của xét nghiệm pepsinogen I, II và tỷ lệ PGI/PGII <br />
<br />
Giá trị bình thường của mức độ pepsinogen I huyết thanh ở những người khỏe mạnh bình thường được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới là &gt; 70 ng/mL, của pepsinogen II là  7,5 ng/mL và của tỷ lệ PGI/II là &gt; 3 [2, 3, 4, 5, 6, 8, 11]. Mức độ pepsinogen I, pepsinogen II và tỷ lệ PGI/II không khác nhau theo tuổi và giới.<br />
<br />
Mức độ pepsinogen I huyết thanh với giá trị cắt (cut-off) ≤ 70 ng/mL được xem là giá trị (+) tính đối với các bệnh tiền ung thư (precancerous diseases of stomach) và ung thư dạ dày [5].<br />
<br />
Tỷ lệ PGI/II với giá trị cắt là  ≤ 3 được xem là giá trị (+) tính đối với các bệnh tiền ung thư và ung thư dạ dày [5].<br />
<br />
Về ung thư dạ dày, người ta đã xác định được quá trình tổn thương về tế bào bệnh học diễn biến theo thứ tự sau: viêm dạ dày mạn (chronic gastritis), viêm teo dạ dày mạn (atrophic chronic gastritis), dị sản (metaplasia) và loạn sản (dysplasia). Vậy mức độ pepsinogen I, II huyết thanh và tỷ lệ PGI/PGII thay đổi như thế nào trong quá trình tiến triển của ung thư dạ dày?<br />
<br />
Ỏ bệnh nhân bị các bệnh dạ dày lành tính như viêm, loét dạ dày hoặc tá tràng, các công trình nghiên cứu cho thấy không có sự thay đổi có ý nghĩa về mức độ pepsinogen I ở những bệnh nhân bị loét dạ dày, viêm dạ dày do H.pylori, bệnh dạ dày do tăng áp lực tĩnh mạch cửa (portal hypotensive gastropathy), chứng khó tiêu không có loét (non-ulcer dyspepsia-NUD) và viêm trợt dạ dày (erosive gastritis) so người khỏe mạnh bình thường. Tuy nhiên, cũng có công trình nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân bị loét dạ dày (peptic ulcer) hoặc loét hành tá tràng do nhiễm H.pylori, mức độ pepsinogen I huyết thanh cao hơn so với ở người bình thường [1, 12]. <br />
<br />
Ở bệnh nhân bị viêm teo dạ dày (atrophic gastritis), mức độ pepsinogen I huyết thanh giảm một cách có ý nghĩa trong khi mức độ pepsinogen II huyết thanh hầu như không thay đổi. Trong viêm teo dạ dày nặng (severe), mức độ pepsinogen I huyết thanh có thể giảm xuống dưới 20 ng/mL, tùy thuộc vào mức độ tổn thương niêm mạc do viêm teo. Độ nhạy và độ nhạy chẩn đoán viêm teo dạ dày của mức độ pepsinogen I huyết thanh tương ứng là 92% và 90%. Có sự giảm một cách có ý nghĩa mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PG I/ II ở những bệnh nhân viêm teo dạ dày so với ở những bệnh nhân viêm dạ dày lớp nông (superficial) hoặc viêm dạ dày mà niêm mạc hãy còn bình thường [1, 12]. Như vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PG I/ II có thể được sử dụng như những dấu ấn cho chẩn đoán các tổn thương dạ dày tiền ung thư (premalignant gastric lesions) [8], điều này có thể giúp sàng lọc để chẩn đoán sớm nguy cơ ung thư dạ dày.<br />
<br />
Đối với ung thư dạ dày (gastric cancer hoặc gastric adenocarcinogen), khối u thường phát triển ở niêm mạc dạ dày do tác động của viêm teo dạ dày mạn tính. Vì vậy, việc định lượng các pepsinogen huyết thanh có thể được xem như một “sinh thiết huyết thanh” (serological biopsy), cho phép phát hiện sớm các bệnh nhân ung thư dạ dày. Nhiều công trình nghiên cứu [1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,12] ở nhiều nước, trong một thời gian dài với nhiều nghìn bệnh nhân ung thư dạ dày đã cho thấy mức độ pepsinogen I huyết thanh của bệnh nhân ung thư dạ dày giảm một cách có ý nghĩa rõ rệt, trong khi hầu như không có sự thay đổi có ý nghĩa của mức độ pepsinogen II huyết thanh ở bệnh nhân ung thư dạ dày so với ở  người bình thường. Vì vậy, tỷ lệ PGI/II ở bệnh nhân ung thư dạ dày cũng giảm một cách có ý nghĩa so với các giá trị này ở người bình thường. Đối với mức độ nặng của ung thư dạ dày, các giá trị pepsinogen I và tỷ lệ PGI/II giảm nhiều hơn một cách có ý nghĩa ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển so với ở bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm [1].<br />
<br />
Để chẩn đoán phân biệt ung thư dạ dày với các bệnh dạ dày khác, Zhang XM và cộng sự (2014) [12] đã so sánh mức độ pepsinogen I, II và tỷ số PGI/II của các bệnh nhân bị các bệnh dạ dày (như viêm dạ dày thể không teo hoặc teo mạn tính, loét dạ dày hoặc hành tá tràng, ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển) với các mức độ này của người khỏe mạnh đã thấy rằng các bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển có mức độ pepsinogen I và tỷ số PGI/II thấp hơn một cách có ý nghĩa so với các giá trị này ở người bình thường (với P&lt;0,005). So với các bệnh nhân bị viêm teo dạ dày, các bệnh nhân bị ung thư dạ dày giai đoạn sớm và giai đoạn tiến triển cũng có mức độ pepsinogen I và tỷ lệ PGI/II thấp hơn một cách có ý nghĩa (p&lt;0,001). Nếu lấy giá trị cắt của pepsinogen I ≤ 70 ng/mL và lấy tỷ lệ PGI/II ≤ 6, độ nhạy và độ đặc hiệu của chẩn đoán ung thư dạ dày tương ứng sẽ là 62,1 và 94,2%. <br />
<br />
<br />
Như vậy, sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II là những yếu tố nguy cơ của ung thư dạ dày. Việc sử dụng kết hợp mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp chẩn đoán sớm ung thư dạ dày. Tuy nhiên, một khi xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II (+) tính, để khẳng định chẩn đoán ung thư dạ dày, điều cần thiết là cần xét nghiệm thêm một số dấu ấn ung thư dạ dày khác như CA 72-4, CA 19-9, CEA, cũng như nội soi dạ dày tìm khối u và sinh thiết các vị trí nghi ngờ ung thư trên khối u để chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học.<br />
<br />
KẾT LUẬN<br />
<br />
1. Sự giảm mức độ pepsinogen I huyết thanh với giá trị cắt (cut-off) là ≤ 70 ng/mL và tỷ lệ PGI/II ≤ 3 là dấu ấn của các tổn thương tiền ung thư và ung thư dạ dày. <br />
<br />
2. Xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được chỉ định để chẩn đoán ung thư dạ dày ở những bệnh nhân có các triệu chứng ung thư dạ dày.<br />
<br />
3. Sự kết hợp giữa mức độ pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể giúp chẩn đoán phân biệt ung thư dạ dày với các bệnh dạ dày lành tính khác.<br />
<br />
4. Xét nghiệm pepsinogen I huyết thanh và tỷ lệ PGI/II có thể được sử dụng để sàng lọc trong cộng đồng nhằm phát hiện sớm tiền ung thư và ung thư dạ dày do xét nghiệm này dễ kết hợp với các phương pháp sàng lọc khác, cách thực hiện đơn giản và giá thành rẻ.<br />
 <br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
Cao Q, Ran ZH, Xiao SD. Screening of atrophic gastritis and gastric cancer by serum pepsinogen, gastrin-17 and Helicobacter pylori immunoglobulin G antibodies. J Dig Dis 2007; 8(1): 15-22.<br />
Kang JM, Kim N, Yoo IY, et al. The role of serum pepsinogen and gastrin test for the detection of gastric cancer in Korea. Helicobacter 2008 Apr; 13(2): 146-156.<br />
Kitahara F, Kobayashi K, Sato T, et al. Accuracy of screening for gastric cancer using serum pepsinogen concentrations. Gut 1999; 44: 693-697.<br />
Lomba-Viana R, Dinis-Ribeiro M, Fonseca F, et al. Serum pepsinogen test for early detection of gastric cancer in a European country. Eur Gastroenterol Hepatol 2012 Jan; 24(1): 37-41.<br />
Mahmood R, Nahla G, Kalida AL. The role of pepsinogen test among the patients with gastric cancer. J Fac Med Baghdad 2010; 52(2): 193-197.<br />
Masjedizadeh AR, Hajiani E, Alavinejad P, et al. Diagnostic Value of Pepsinogen I and II for Pre-cancerous Gastric Lesions in Dyspeptic Patients. J Gastroenterol Hepatol Res 2013; 2(1): 269-273.<br />
Miki K, Ichinose M, Kawamura N, et al. The significance of low serum pepsinogen levels to detect stomach cancer associated with extensive chronic gastritis in Japanese subjects. Jpn J cancer Res 1989 Feb; 80(2): 111-114.<br />
Miki K. Gastric cancer screening using the serum pepsinogen test method. Gastric cancer 2006; 9(4): 245-253.<br />
Miki K, Fujishiro M, Kodashima S, Yahagi N. Long-term results of gastric cancer screening using the serum pepsinogen test method among an asymptomatic middle-aged Japanese population. Dig Endosc 2009 Apr; 21(2): 78-81.<br />
Mukoubayashi C, Yanaoka K, Ohata H, et al. Serum pepsinogen and gastric cancer screening. Intern Med 2007; 46(6): 261-266.<br />
Ubukara H, Konishi S, Nakachi T, et al. Characteristics of the serum pepsinogen (PG) test, and the relationship between Pg test results and gastric cancer outcomes. Scand J Surg 2010; 99(4): 201-207. <br />
Zhang XM, Li JX, Zhang GY, et al. The value of serum pepsinogen levels for the diagnosis of gastric diseases in Chinese Han people in midsouth China. BMC Gastroenterology 2014, 14: 13-18.<br />
<br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[NGAL Xét nghiệm mới có thể dự đoán tình trạng thận bị phá hủy]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3862.html</link>
			<pubDate>Mon, 16 Jun 2014 13:23:36 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=990">phuhmtu</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3862.html</guid>
			<description><![CDATA[“Urine NGAL” cung cấp những manh mối về tổn thương ở thận của những bệnh nhân ICU và  bệnh thận liên quan đến HIV.  Tổn thương thận cấp tính (AKI) là một tình trạng phổ biến ở những bệnh nhân phải nhận sự chăm sóc đặc biệt.<br />
Một nghiên cứu khác, cũng trên JASN, chỉ ra rằng NGAL niệu cũng có thể giúp chẩn đoán bệnh thận liên quan đến HIV xuất hiện ở những người Mỹ gốc Phi và người châu Phi da đen. “NGAL biểu hiện rất chuyên biệt trong những bao nang thận – tạo ra ý tưởng rằng NGAL có thể kiểm soát sự phát triển của những túi nang trong bệnh thận liên quan đến HIV”, theo lời của tiến sĩ y khoa Jonathan Barasch (Đại học Columbia, New York).<br />
<br />
Ông bổ sung thêm, “Chúng tôi và tiến sĩ Prasad Devarajan, đã xác định sự hiện diện của NGAL trong thận cách đây 10 năm và sự chuyển dịch của nó vào thực tế lâm sàng trong một thời gian ngắn như vậy là đáng ngạc nhiên. Hầu như mọi bài báo đều có khả năng liên quan với NGAL và những căn bệnh hoặc tình trạng suy giảm chức năng thận”. <br />
<br />
<br />
Trong nghiên cứu ICU, những bệnh nhân với nồng độ NGAL niệu cao hơn sẽ có khuynh hướng phát triển tình trạng tổn thương thận cấp tính nhiều hơn, thậm chí là sau khi điều chỉnh những yếu tố liên quan khác. Sự gia tăng của NGAL đã hiện diện trước khi có bất kỳ thay đổi nào xuất hiện trong xét nghiệm tiêu chuẩn cho tình trạng AKI (nồng độ creatinin huyết thanh). Tuy nhiên, nếu không có thông tin nào khác, NGAL niệu không hiệu quả hơn trong việc dự đoán AKI so với những yếu tố nguy cơ lâm sàng. Ikizler lưu ý rằng nghiên cứu bị giới hạn bởi việc thiếu thông tin về tình trạng tử vong bất thường hoặc nhu cầu cần thẩm phân, và do thiếu thông tin về chức năng thận ban đầu của bệnh nhân.  <br />
<br />
Trong nghiên cứu HIV, nồng độ NGAL niệu cao hơn nhiều ở những bệnh nhân mắc bệnh thận liên quan tới HIV (HIVAN) hơn là những bệnh nhân có những dạng bệnh thận khác, nhiễm hoặc không nhiễm HIV. HIVAN là một biến chứng quan trọng của HIV, xảy ra phần lớn ở những bệnh nhân có gốc Phi.  <br />
<br />
Những nghiên cứu trên chuột đề nghị rằng NGAL có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh liên quan đến tế bào ống và vi nang, vốn là những đặc trưng của HIVAN. Barasch lưu ý rằng nghiên cứu trên người bị giới hạn ở số lượng nhỏ nhưng nêu bật sự cần thiết của những nghiên cứu lớn hơn nhằm đo lường chính xác monomer của NGAL. Ông bổ sung: “Nếu những kết quả của chúng tôi được xác nhận, việc đo nồng độ NGAL niệu có thể giúp phân loại bệnh nhân vào những nhóm có nguy cơ khác nhau”.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[“Urine NGAL” cung cấp những manh mối về tổn thương ở thận của những bệnh nhân ICU và  bệnh thận liên quan đến HIV.  Tổn thương thận cấp tính (AKI) là một tình trạng phổ biến ở những bệnh nhân phải nhận sự chăm sóc đặc biệt.<br />
Một nghiên cứu khác, cũng trên JASN, chỉ ra rằng NGAL niệu cũng có thể giúp chẩn đoán bệnh thận liên quan đến HIV xuất hiện ở những người Mỹ gốc Phi và người châu Phi da đen. “NGAL biểu hiện rất chuyên biệt trong những bao nang thận – tạo ra ý tưởng rằng NGAL có thể kiểm soát sự phát triển của những túi nang trong bệnh thận liên quan đến HIV”, theo lời của tiến sĩ y khoa Jonathan Barasch (Đại học Columbia, New York).<br />
<br />
Ông bổ sung thêm, “Chúng tôi và tiến sĩ Prasad Devarajan, đã xác định sự hiện diện của NGAL trong thận cách đây 10 năm và sự chuyển dịch của nó vào thực tế lâm sàng trong một thời gian ngắn như vậy là đáng ngạc nhiên. Hầu như mọi bài báo đều có khả năng liên quan với NGAL và những căn bệnh hoặc tình trạng suy giảm chức năng thận”. <br />
<br />
<br />
Trong nghiên cứu ICU, những bệnh nhân với nồng độ NGAL niệu cao hơn sẽ có khuynh hướng phát triển tình trạng tổn thương thận cấp tính nhiều hơn, thậm chí là sau khi điều chỉnh những yếu tố liên quan khác. Sự gia tăng của NGAL đã hiện diện trước khi có bất kỳ thay đổi nào xuất hiện trong xét nghiệm tiêu chuẩn cho tình trạng AKI (nồng độ creatinin huyết thanh). Tuy nhiên, nếu không có thông tin nào khác, NGAL niệu không hiệu quả hơn trong việc dự đoán AKI so với những yếu tố nguy cơ lâm sàng. Ikizler lưu ý rằng nghiên cứu bị giới hạn bởi việc thiếu thông tin về tình trạng tử vong bất thường hoặc nhu cầu cần thẩm phân, và do thiếu thông tin về chức năng thận ban đầu của bệnh nhân.  <br />
<br />
Trong nghiên cứu HIV, nồng độ NGAL niệu cao hơn nhiều ở những bệnh nhân mắc bệnh thận liên quan tới HIV (HIVAN) hơn là những bệnh nhân có những dạng bệnh thận khác, nhiễm hoặc không nhiễm HIV. HIVAN là một biến chứng quan trọng của HIV, xảy ra phần lớn ở những bệnh nhân có gốc Phi.  <br />
<br />
Những nghiên cứu trên chuột đề nghị rằng NGAL có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh liên quan đến tế bào ống và vi nang, vốn là những đặc trưng của HIVAN. Barasch lưu ý rằng nghiên cứu trên người bị giới hạn ở số lượng nhỏ nhưng nêu bật sự cần thiết của những nghiên cứu lớn hơn nhằm đo lường chính xác monomer của NGAL. Ông bổ sung: “Nếu những kết quả của chúng tôi được xác nhận, việc đo nồng độ NGAL niệu có thể giúp phân loại bệnh nhân vào những nhóm có nguy cơ khác nhau”.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[ProGRP: một dấu ấn ung thư có giá trị của ung thư phổi tế bào nhỏ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3861.html</link>
			<pubDate>Mon, 16 Jun 2014 13:14:26 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=990">phuhmtu</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3861.html</guid>
			<description><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Ung thư phổi là một loại ung thư phổ biến nhất gây tử vong trên thế giới. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nam là khoảng 29,6/100.000 người, đứng hàng thứ 2 trong ung thư ở nam giới (sau ung thư gan) và là một trong 4 loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới (với tỷ lệ mắc 7,3/100.000 dân). Nguy cơ ung thư ở người có thể liên quan với sự phơi nhiễm với các chất gây ung thư (carcinogens) từ môi trường, nghề nghiệp hoặc đồ chơi [3]. Peptide giải phóng progestrin (progastrin-releasing peptide: ProGRP) là một tiền chất của một hormone neuropeptide có tên là peptide giải phóng gastrin (gastrin-releasing peptide: GRP), gồm 27 gốc acid amin, có khối lượng phân tử  MW khoảng 14 kD. ProGRP có mặt trong các sợi thần kinh, não, các tế bào thần kinh nội tiết trong biểu mô cuống phổi của bào thai, phổi trẻ sơ sinh và cũng được sản xuất bởi các tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer: SCLC). Chức năng của GRP là kích thích sản xuất gastrin ở cơ quan tiêu hóa người và kích thích phát triển cơ quan hô hấp. <br />
<br />
Mức độ ProGRP tăng lên trong máu tuần hoàn đã được chứng minh là một dấu ấn có giá trị của ung thư phổi tế bào nhỏ, là một dấu ấn nhạy nhất để chẩn đoán phân biệt với các loại ung thư phổi khác và các bệnh lành tính của phổi [1, 2, 3]. <br />
<br />
1. Chỉ định: xét nghiệm ProGRP được chỉ định để: <br />
<br />
- Chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ nếu có nghi ngờ;<br />
<br />
- Chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các ung thư phổi khác - Đánh giá hiệu quả điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ;     <br />
<br />
- Phát hiện tái phát sau điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ [2].<br />
<br />
2. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Bình thường nồng độ ProGRP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là ≤ 50 ng/L, chỉ có dưới 5% người khỏe mạnh có nồng độ ProGRP cao hơn bình thường nhưng vẫn &lt; 75 ng/L.<br />
<br />
2.1. Về chẩn đoán: ProGRP là một dấu ấn ung thư có giá trị trong chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ.  Ở độ đặc hiệu 95%, độ nhạy của ProGRP là khoảng 85% trong chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các ung thư phổi khác và là 86,5% trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh phổi lành tính khác [1, 3].<br />
<br />
- Giá trị cắt (cut-off) của ProGRP đối với chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ là 65,89 ng/L [1]. <br />
<br />
- Nếu nồng độ ProGRP tăng &gt; 200 ng/L: nguy cơ ung thư phổi tế bào nhỏ tăng.<br />
<br />
- Nếu nồng độ ProGRP tăng &gt; 300 ng/L: có thể nghĩ đến ung thư phổi tế bào nhỏ nếu chức năng thận là bình thường, bởi vì suy thận có thể làm ProGRP tăng lên đến 300 ng/L.<br />
<br />
- Trong chẩn đoán phân biệt, ProGRP là một dấu ấn ung thư hữu ích trong chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các loại ung thư phổi khác. ProGRP là một dấu ấn ung thư nhạy nhất cho ung thư phổi tế bào nhỏ. Ở cả hai giai đoạn chưa di căn (Mo) và di căn (M1) của ung thư phổi tế bào nhỏ, độ nhạy chẩn đoán của ProGRP đều cao hơn rõ rệt so với các dấu ấn ung thư phổi khác như NSE, CEA, CA125, CYFRA 21-1 và SCC [4, 5, 6, 7].<br />
<br />
2.2. Về phát hiện tái phát: ProGRP (tốt hơn nếu định lượng thêm NSE) có thể được sử dụng để phát hiện sự tái phát sau điều trị của ung thư phổi tế bào nhỏ bằng cách theo dõi động học tăng lên của mức độ ProGRP huyết tương theo thời gian [7]. <br />
<br />
2.3. Về tiên lượng: cũng có thể sử dụng mức độ tăng của ProGRP để tiên lượng ung thư phổi tế bào nhỏ [5]. <br />
<br />
2.4. Về sàng lọc: hiện chưa có báo cáo nào chứng minh về lợi ích của ProGRP hoặc sự kết hợp của các dấu ấn ung thư sử dụng để chẩn đoán sớm ung thư phổi tế bào nhỏ ở những nhóm người không có triệu chứng, kể cả ở những nhóm người có nguy cơ cao như những người hút thuốc lá. <br />
<br />
Đối với các ung thư khác, ProGRP hiếm khi tăng trong các ung thư ngoài phổi khác và nếu có tăng, cũng chỉ tăng ở mức độ vừa phải. <br />
<br />
Trong các bệnh lành tính, ProGRP  không tăng, trừ trường hợp suy thận do viêm cầu thận mạn hoặc bệnh thận do đái tháo đường (mức độ creatinine trên 120 µmol/L).<br />
<br />
KẾT LUẬN<br />
1. ProGRP là một dấu ấn ung thư tốt nhất cho chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ, có độ nhạy cao hơn NSE và các dấu ấn ung thư phổi khác, giúp chẩn đoán phân biệt với các khối u khác của phổi, đặc biệt hữu ích khi sinh thiết (biopsy) khối u phổi không thể thực hiện được.<br />
<br />
2. ProGRP có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ. <br />
<br />
3. ProGRP cũng có thể được sử dụng để phát hiện sự tái phát sau điều trị của ung thư phổi tế bào nhỏ bằng cách theo dõi sự tăng lên của mức độ ProGRP huyết tương theo thời gian.<br />
<br />
4. Cũng có thể sử dụng ProGRP trong tiên lượng ung thư phổi tế bào nhỏ. <br />
<br />
Hiện nay, mức độ ProGRP huyết tương, cùng với các dấu ấn ung thư khác của ung thư phổi tế bào nhỏ như NSE, CYFRA 21-1, CA125, CEA và SCC, đang được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
<br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
1. Buvanovic G, Pavicevic R and Franjevic A. Determining the cut-off value of pro-gastrin releasing peptide (ProGRP) in lung cancer according to population characteristics. Coll Antropol 2008 Dec; 32(4): 1155-1164.<br />
2. Holdenrieder S, von Pawel J, Dankelmann, et al. Nucleosomes, ProGRP, NSE, CYFRA 21-1, and CEA in monitoring first-line chemotherapy of small cell lung cancer. Clin Cancer Res 2008 Dec 1; 14(23): 7813-7821.<br />
3. Kim HR, Oh Ị, Shin MG, Park JS, et al. Plasma proGRP Concentration is Sensitive and Specific for Discriminating Small Cell Lung Cancer from Nonmalignant Conditions or Non-small Cell Lung Cancer. J Korean Med Sci 2011 May; 26(5): 625-630. <br />
4.  Molina R, Auge JM, Bosch X, et al. Usefulness of serum tumor markers, including progastrin-releasing peptide, in patients with lung cancer: correlation with histology. Tumour Biol 2009; 30(3): 121-129.<br />
5. Nisman B, Biran H, Ramu N, Heching N, Barak V, and Peretz. The diagnostic and prognostic value of ProGRP in lung cancer. Anticancer Res 2009; 29(11): 4827-4832.<br />
6. Schneider J, Phillip M, Velcovky HG, Morr H, Katz N. Pro-gastrin-releasing peptide (ProGRP), neuron specific enolase (NSE), carcinoembryonic antigen (CEA) and cytokeratin 19-fragments (CYFRA 21-1) in patients with lung cancer in comparison to other lung diseases. Anticancer Res 2003 Mar-Apr; 23(2A): 885-893.<br />
7. Wójcik E, Kulpa JK, Sas-Korczýnska B, Korzeniowski S and Jakubowicz J.  ProGRP and NSE in therapy monitoring in patients with small cell lung cancer. Anticancer Res 2008 Sep-Oct; 28(5B): 3027-3033.<br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật - Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC<br />
<br />
Ung thư phổi là một loại ung thư phổ biến nhất gây tử vong trên thế giới. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nam là khoảng 29,6/100.000 người, đứng hàng thứ 2 trong ung thư ở nam giới (sau ung thư gan) và là một trong 4 loại ung thư thường gặp nhất ở nữ giới (với tỷ lệ mắc 7,3/100.000 dân). Nguy cơ ung thư ở người có thể liên quan với sự phơi nhiễm với các chất gây ung thư (carcinogens) từ môi trường, nghề nghiệp hoặc đồ chơi [3]. Peptide giải phóng progestrin (progastrin-releasing peptide: ProGRP) là một tiền chất của một hormone neuropeptide có tên là peptide giải phóng gastrin (gastrin-releasing peptide: GRP), gồm 27 gốc acid amin, có khối lượng phân tử  MW khoảng 14 kD. ProGRP có mặt trong các sợi thần kinh, não, các tế bào thần kinh nội tiết trong biểu mô cuống phổi của bào thai, phổi trẻ sơ sinh và cũng được sản xuất bởi các tế bào ung thư phổi tế bào nhỏ (small cell lung cancer: SCLC). Chức năng của GRP là kích thích sản xuất gastrin ở cơ quan tiêu hóa người và kích thích phát triển cơ quan hô hấp. <br />
<br />
Mức độ ProGRP tăng lên trong máu tuần hoàn đã được chứng minh là một dấu ấn có giá trị của ung thư phổi tế bào nhỏ, là một dấu ấn nhạy nhất để chẩn đoán phân biệt với các loại ung thư phổi khác và các bệnh lành tính của phổi [1, 2, 3]. <br />
<br />
1. Chỉ định: xét nghiệm ProGRP được chỉ định để: <br />
<br />
- Chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ nếu có nghi ngờ;<br />
<br />
- Chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các ung thư phổi khác - Đánh giá hiệu quả điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ;     <br />
<br />
- Phát hiện tái phát sau điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ [2].<br />
<br />
2. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
Bình thường nồng độ ProGRP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là ≤ 50 ng/L, chỉ có dưới 5% người khỏe mạnh có nồng độ ProGRP cao hơn bình thường nhưng vẫn &lt; 75 ng/L.<br />
<br />
2.1. Về chẩn đoán: ProGRP là một dấu ấn ung thư có giá trị trong chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ.  Ở độ đặc hiệu 95%, độ nhạy của ProGRP là khoảng 85% trong chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các ung thư phổi khác và là 86,5% trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh phổi lành tính khác [1, 3].<br />
<br />
- Giá trị cắt (cut-off) của ProGRP đối với chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ là 65,89 ng/L [1]. <br />
<br />
- Nếu nồng độ ProGRP tăng &gt; 200 ng/L: nguy cơ ung thư phổi tế bào nhỏ tăng.<br />
<br />
- Nếu nồng độ ProGRP tăng &gt; 300 ng/L: có thể nghĩ đến ung thư phổi tế bào nhỏ nếu chức năng thận là bình thường, bởi vì suy thận có thể làm ProGRP tăng lên đến 300 ng/L.<br />
<br />
- Trong chẩn đoán phân biệt, ProGRP là một dấu ấn ung thư hữu ích trong chẩn đoán phân biệt ung thư phổi tế bào nhỏ với các loại ung thư phổi khác. ProGRP là một dấu ấn ung thư nhạy nhất cho ung thư phổi tế bào nhỏ. Ở cả hai giai đoạn chưa di căn (Mo) và di căn (M1) của ung thư phổi tế bào nhỏ, độ nhạy chẩn đoán của ProGRP đều cao hơn rõ rệt so với các dấu ấn ung thư phổi khác như NSE, CEA, CA125, CYFRA 21-1 và SCC [4, 5, 6, 7].<br />
<br />
2.2. Về phát hiện tái phát: ProGRP (tốt hơn nếu định lượng thêm NSE) có thể được sử dụng để phát hiện sự tái phát sau điều trị của ung thư phổi tế bào nhỏ bằng cách theo dõi động học tăng lên của mức độ ProGRP huyết tương theo thời gian [7]. <br />
<br />
2.3. Về tiên lượng: cũng có thể sử dụng mức độ tăng của ProGRP để tiên lượng ung thư phổi tế bào nhỏ [5]. <br />
<br />
2.4. Về sàng lọc: hiện chưa có báo cáo nào chứng minh về lợi ích của ProGRP hoặc sự kết hợp của các dấu ấn ung thư sử dụng để chẩn đoán sớm ung thư phổi tế bào nhỏ ở những nhóm người không có triệu chứng, kể cả ở những nhóm người có nguy cơ cao như những người hút thuốc lá. <br />
<br />
Đối với các ung thư khác, ProGRP hiếm khi tăng trong các ung thư ngoài phổi khác và nếu có tăng, cũng chỉ tăng ở mức độ vừa phải. <br />
<br />
Trong các bệnh lành tính, ProGRP  không tăng, trừ trường hợp suy thận do viêm cầu thận mạn hoặc bệnh thận do đái tháo đường (mức độ creatinine trên 120 µmol/L).<br />
<br />
KẾT LUẬN<br />
1. ProGRP là một dấu ấn ung thư tốt nhất cho chẩn đoán ung thư phổi tế bào nhỏ, có độ nhạy cao hơn NSE và các dấu ấn ung thư phổi khác, giúp chẩn đoán phân biệt với các khối u khác của phổi, đặc biệt hữu ích khi sinh thiết (biopsy) khối u phổi không thể thực hiện được.<br />
<br />
2. ProGRP có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ. <br />
<br />
3. ProGRP cũng có thể được sử dụng để phát hiện sự tái phát sau điều trị của ung thư phổi tế bào nhỏ bằng cách theo dõi sự tăng lên của mức độ ProGRP huyết tương theo thời gian.<br />
<br />
4. Cũng có thể sử dụng ProGRP trong tiên lượng ung thư phổi tế bào nhỏ. <br />
<br />
Hiện nay, mức độ ProGRP huyết tương, cùng với các dấu ấn ung thư khác của ung thư phổi tế bào nhỏ như NSE, CYFRA 21-1, CA125, CEA và SCC, đang được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
<br />
TÀI LIỆU THAM KHẢO<br />
1. Buvanovic G, Pavicevic R and Franjevic A. Determining the cut-off value of pro-gastrin releasing peptide (ProGRP) in lung cancer according to population characteristics. Coll Antropol 2008 Dec; 32(4): 1155-1164.<br />
2. Holdenrieder S, von Pawel J, Dankelmann, et al. Nucleosomes, ProGRP, NSE, CYFRA 21-1, and CEA in monitoring first-line chemotherapy of small cell lung cancer. Clin Cancer Res 2008 Dec 1; 14(23): 7813-7821.<br />
3. Kim HR, Oh Ị, Shin MG, Park JS, et al. Plasma proGRP Concentration is Sensitive and Specific for Discriminating Small Cell Lung Cancer from Nonmalignant Conditions or Non-small Cell Lung Cancer. J Korean Med Sci 2011 May; 26(5): 625-630. <br />
4.  Molina R, Auge JM, Bosch X, et al. Usefulness of serum tumor markers, including progastrin-releasing peptide, in patients with lung cancer: correlation with histology. Tumour Biol 2009; 30(3): 121-129.<br />
5. Nisman B, Biran H, Ramu N, Heching N, Barak V, and Peretz. The diagnostic and prognostic value of ProGRP in lung cancer. Anticancer Res 2009; 29(11): 4827-4832.<br />
6. Schneider J, Phillip M, Velcovky HG, Morr H, Katz N. Pro-gastrin-releasing peptide (ProGRP), neuron specific enolase (NSE), carcinoembryonic antigen (CEA) and cytokeratin 19-fragments (CYFRA 21-1) in patients with lung cancer in comparison to other lung diseases. Anticancer Res 2003 Mar-Apr; 23(2A): 885-893.<br />
7. Wójcik E, Kulpa JK, Sas-Korczýnska B, Korzeniowski S and Jakubowicz J.  ProGRP and NSE in therapy monitoring in patients with small cell lung cancer. Anticancer Res 2008 Sep-Oct; 28(5B): 3027-3033.<br />
Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Anti-CCP - một xét nghiệm bổ sung cho chẩn đoán viêm khớp dạng thấp]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3847.html</link>
			<pubDate>Fri, 13 Jun 2014 01:13:04 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3847.html</guid>
			<description><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp [2].<br />
<br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung.<br />
<br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn [1, 3].<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e, được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC số 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"> 1. Chỉ định</span><br />
          Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
            - Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Giá trị bình thường:</span><br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Ý nghĩa lâm sàng</span><br />
                Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng [1, 3, 4, 5].<br />
            - Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng <br />
điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.<br />
                                                 <br />
 <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><div style="text-align: center;" class="mycode_align">TÀI LIỆU THAM KHẢO          </div></span></span>                                                  <br />
Avouac J, Gossec L, Dougados M (2006). Diagnostic and predictive value of anti-cyclic citrullinated protein antibodies in rheumatoid arthritis: a systemic literature review. Ann Rhem Dis; 65: 845-851.<br />
Feldmann M, Brennan FM, Maini RN (1996). Rheumatoid arthritis. Cell; 85: 307-310.<br />
Nishimura K, Sugiyma D, Kogata Y, et al (2007). Diagnostic Accuracy of Anti-Cyclic Citrullinated Antibody and Rheumatoid Factor for rheumatoid Arthritis. American College of Physicians; 146: 797-808.<br />
Raptopoulou A, Sidiropoulos P, Katsouraki M (2007). Anti-citrulline antibodies in the diagnosis and prognosis of rheumatoid arthritis: Evolving concepts. Crit Rev Clin Lab Sci; 44: 399-363.<br />
Zendeman AJW, van Venrooij WJ, Pruijin GJM (2006). Use and significance of anti-CCP autoantibodies in rheumatoid arthritis. Rheumatology; 45: 20-25.<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><div style="text-align: right;" class="mycode_align">Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật Bệnh viện Medlatec</div></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp [2].<br />
<br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung.<br />
<br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn [1, 3].<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e, được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC số 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"> 1. Chỉ định</span><br />
          Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
            - Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Giá trị bình thường:</span><br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Ý nghĩa lâm sàng</span><br />
                Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng [1, 3, 4, 5].<br />
            - Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác.<br />
<br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng <br />
điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.<br />
                                                 <br />
 <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><div style="text-align: center;" class="mycode_align">TÀI LIỆU THAM KHẢO          </div></span></span>                                                  <br />
Avouac J, Gossec L, Dougados M (2006). Diagnostic and predictive value of anti-cyclic citrullinated protein antibodies in rheumatoid arthritis: a systemic literature review. Ann Rhem Dis; 65: 845-851.<br />
Feldmann M, Brennan FM, Maini RN (1996). Rheumatoid arthritis. Cell; 85: 307-310.<br />
Nishimura K, Sugiyma D, Kogata Y, et al (2007). Diagnostic Accuracy of Anti-Cyclic Citrullinated Antibody and Rheumatoid Factor for rheumatoid Arthritis. American College of Physicians; 146: 797-808.<br />
Raptopoulou A, Sidiropoulos P, Katsouraki M (2007). Anti-citrulline antibodies in the diagnosis and prognosis of rheumatoid arthritis: Evolving concepts. Crit Rev Clin Lab Sci; 44: 399-363.<br />
Zendeman AJW, van Venrooij WJ, Pruijin GJM (2006). Use and significance of anti-CCP autoantibodies in rheumatoid arthritis. Rheumatology; 45: 20-25.<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><div style="text-align: right;" class="mycode_align">Tác giả bài viết : PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật Bệnh viện Medlatec</div></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Kỹ thuật CPR (cycling probe reaction) trong chẩn đoán]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3639.html</link>
			<pubDate>Fri, 11 Apr 2014 15:49:10 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=13240">vuducduy12a4</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-3639.html</guid>
			<description><![CDATA[ai biết gì về kỹ thuật CPR (cycling probe reaction) mong mọi người giúp!!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[ai biết gì về kỹ thuật CPR (cycling probe reaction) mong mọi người giúp!!]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[PROCALCITONIN- Một marker đặc hiệu cho nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2899.html</link>
			<pubDate>Tue, 08 Oct 2013 07:12:57 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2899.html</guid>
			<description><![CDATA[Ngay từ năm 1914, nhiễm khuẩn huyết (sepsis) đã được định nghĩa là sự đáp ứng viêm hệ thống của cơ thể với nhiễm trùng. Cho đến nay, kết quả của các nhà điều tra dịch tễ học cho thấy nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn vẫn là những nguyên nhân chính gây tử vong tại các khoa điều trị tích cực, kể cả những khoa điều trị tích cực hiện đại. Tại Mỹ và châu Âu tỉ lệ này là 40 -50%, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể. Nhiễm khuẩn huyết thường được chẩn đoán qua các tiêu chí: nhiệt độ, nhịp tim, số lượng bạch cầu..., tuy nhiên các tiêu chuẩn này thường không đặc hiệu và hiện diện trong nhiều bệnh lý khác nhau, vài tiêu chuẩn thường dễ phát hiện và vài tiêu chuẩn ngay cả trong nhiễm khuẩn huyết vẫn không thấy hiện diện. Vì vậy, các nhà lâm sàng rất khó đưa ra tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán và loại trừ nhiễm khuẩn huyết. <br />
<br />
Thực tế tại các bệnh viện đặc biệt là khoa điều trị tích cực(ICU) là nơi có tần xuất nhiễm khuẩn huyết cao: 33% trên tổng số bệnh nhân nội trú, 50% trên tổng số bệnh nhân cần chăm sóc tích cực và 80% trên tất cả bệnh nhân ICU sau phẫu thuật, đòi hỏi cần phải có chẩn đoán sớm và chính xác tình trạng nhiễm khuẩn huyết. Bệnh nhân nghi ngờ có tình trạng nhiễm khuẩn, việc quyết định có sử dụng kháng sinh hay không có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu lạm dụng kháng sinh hay bỏ sót một bệnh lý nhiễm khuẩn đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nếu dùng không đúng dễ gây ra tình trạng đa kháng kháng sinh (Multi Resistence Antibiotic) nguy hiểm. Đó chính là lý do giải thích tại sao cần chẩn đoán sớm nhiễm khuẩn huyết và marker nào đáp ứng được yêu cầu chẩn đoán sớm và chính xác tình trạng nhiễm khuẩn huyết.<br />
<br />
Theo báo cáo của Hội nghị bàn tròn về nhiễm khuẩn huyết tại Canada lần thứ 5( tháng 10 năm 2000), người ta phân loại các marker sinh học được sử dụng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết như sau:<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://media.bacsinoitru.vn/2013/08/17/791untitled.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 791untitled.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Trong số những marker trên người ta nhận thấy: IL-6, CRP có thể tăng thoáng qua bởi nhiều kích thích khác hơn là nhiễm khuẩn, mặt khác endotoxin không cho biết mức độ nặng của quá trình viêm...trong khi PCT có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các marker khác. Đây là một marker đặc hiệu cho nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết.Nó được sản xuất chuyên biệt bởi nhiễm trùng không do virus, có phạm vi định lượng rất rộng ( từ 0,01ng/ml đến 1000ng/ml trong huyết tương), không bị ảnh hưởng bởi nhiễm virus hoặc các đáp ứng tự miễn khác, thời gian bán hủy dài (24h), nồng độ trong máu độc lập với chức năng thận, điều này đặc biệt quan trọng khi biện luận, đánh giá kết quả. <br />
<br />
Những nghiên cứu về lâm sàng cho thấy PCT giúp phân biệt được có nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn. Nồng độ PCT thấp có giá trị tiên lượng âm tính cao để loại trừ nhiễm khuẩn huyết và ngược lại, nồng độ PCT cao ủng hộ chẩn đoán nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn nhất là khi có rối loạn chức năng các cơ quan, hậu quả của quá trình viêm toàn thân, suy đa tạng. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy PCT có thể rút ngắn thời gian chẩn đoán bệnh, phân biệt được nhiễm khuẩn do vi khuẩn hay siêu vi, theo dõi đáp ứng với điều trị kháng sinh và kiểm soát ổ nhiễm khuẩn tốt hơn các marker khác. Chỉ tính riêng từ năm 1980, xuất bản ấn phẩm đầu tiên về PCT đến năm 1995 có 10 ấn phẩm thì đến năm 2004 số ấn phẩm về PCT đã lên tới hơn 400 ấn phẩm, đã phần nào khẳng định vai trò của PCT trong nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Cấu trúc, đặc tính sinh hóa học của PCT</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_03.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_03.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
PCT là tiền chất của hormone calcitonin, gồm 116 acid amin và hình thành từ gen CALC-1 thuộc nhiễm sắc thể 11 trong hệ thống gen ở người. Sau khi phiên mã từ CT-DNA thành mRNA, sản phẩm đầu tiên là pre-procalcitonin, sản phẩm này qua nhiều biến đổi thành PCT. PCT tiếp tục biến đổi nhờ các enzyme thành các peptid có phân tử lượng nhỏ hơn như: calcitonin (32 acid amin), katacalcin (21 acid amin)...Tất cả các tiền tố từ PCT đến các hormone, peptid... đều có thể phát hiện được trong máu người khỏe mạnh. PCT có nguồn gốc từ tế bào C tuyến giáp, tế bào gan, monocyte (khi có nhiễm khuẩn). Nội độc tố vi khuẩn, cytokin tiền viêm, IL-6 và TNF-α là những dẫn chất chính trong cơ chế tăng sinh PCT, với sự có mặt của mRNA hiện diện trong mọi tế bào, nhưng nơi tổng hợp và giải phóng PCT chủ yếu vẫn là tại gan.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sơ đồ nguồn gốc PCT</span><br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_04.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_04.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một giả thuyết về nguồn gốc của PCT khi nhiễm khuẩn. Theo đó PCT không phải là một hormone, cũng không phải là cytokine mà là một hormokine và mô hình biến đổi sau khi phiên mã của các tiền tố calcitonin gồm hai hướng:<br />
<br />
Theo hướng nội tiết thần kinh truyền thống: vị trí tổng hợp PCT ở người khỏe mạnh là các tế bào C của tuyến giáp. Sự biểu hiện của CT-mRNA chỉ xảy ra ở các tế bào nội tiết thần kinh. Quá trình giải phóng calcitonin sau phiên mã chỉ xảy ra ở túi Golgi. Theo hướng này calcitonin đóng vai trò quan trọng trong điều hòa chuyển hóa canxi và phosphate trong xương.<br />
<br />
Theo hướng thay thế trong viêm và nhiễm khuẩn (khả năng tổng hợp PCT liên quan tới nhiễm khuẩn). Các tác nhân khởi tạo cho sự tổng hợp PCT là các cytokine tiền viêm như IL-1, TNF-α hoặc những thành tố của màng tế bào vi sinh vật như peptidoglycan. Hướng tổng hợp này được Muller và cộng sự mô tả lần đầu tiên năm 2001. Sau khi được khởi tạo bởi nhiễm khuẩn, lượng mRNA của PCT có thể được phát hiện trong tất cả các mô nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đầu tiên các bạch cầu đơn nhân gắn kết được kích thích bởi cytokine sẽ giải phóng PCT với lượng thấp( trong vòng 2 giờ). Tuy nhiên đây là giai đoạn tổng hợp rất quan trọng và từ đó nhanh chóng tạo ra một lượng lớn PCT trong tất cả các mô. Trong nhiễm khuẩn lâm sàng, PCT được tạo ra ở hướng thay thế ở tất cả các tế bào nhu mô và bài tiết vào hệ thống tuần hoàn. Hơn nữa, do các tế bào nhu mô là dạng mô phổ biến nhất ở người, điều này lý giải tại sao có thể tạo ra một nồng độ cực lớn PCT( tăng gấp 100 000 lần so với nồng độ sinh lý). Quá trình tổng hợp PCT tiếp tục xảy ra khi nào vẫn còn sự kích thích tổng hợp do nhiễm khuẩn. Các thử nghiệm còn được tiến hành để giải thích tại sao PCT chỉ được tổng hợp khi nhiễm khuẩn mà không phải do nhiễm virus. Theo đó các tế bào được nuôi cấy trong môi trường hoặc chứa IL-1, hoặc chứa cả hai loại IL-1 và INF-α. Kết quả cho thấy, các tế bào chỉ được sử lý với IL-1 vẫn tổng hợp PCT. Ngược lại, được nuôi cấy với IL-1 và INF-α không có tổng hợp PCT. Kết quả này cho thấy INF-α là tác nhân ức chế quá trình tổng hợp PCT. Các tế bào bị nhiễm virus luôn giải phóng INF-α, đó chính cơ sở cho thực tế sử dụng PCT như một công cụ hiệu quả để phân biệt nhiễm khuẩn với nhiễm virus.<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_07.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_07.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
So với các marker khác, PCT có tính đặc hiệu cao khi đáp ứng với nhiễm khuẩn toàn thân nặng. Trong nhiễm khuẩn, nồng độ PCT sẽ gia tăng và có thể phát hiện được sau 2 giờ, trong khi đó CRP bắt đầu tăng sau khoảng 6 giờ. Các cytokine có thể tăng sớm hơn song thời gian bán hủy nhanh, kỹ thuật định lượng đòi hỏi phức tạp hơn nên ít thích hợp trong điều kiện hiện nay. Với ưu điểm về động học như vậy nên PCT thích hợp được sử dụng để hướng dẫn điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh. Khi tình trạng nhiễm khuẩn được hồi phục, PCT sẽ quay trở lại giá trị sinh lý. Vì vậy, diễn biến nồng độ PCT có thể được sử dụng để theo dõi diễn biến và tiên lượng nhiễm khuẩn hệ thống nghiêm trọng đồng thời là cơ sở để điều chỉnh các quyết định điều trị hiệu quả. Việc sử dụng động học của PCT kết hợp với các dữ liệu lâm sàng để quyết định thời điểm bắt đầu và thời gian sử dụng kháng sinh tùy theo từng trường hợp cụ thể là rất thiết thực đối với các thầy thuốc lâm sàng. Điều này cũng đặc biệt có ý nghĩa vì sử dụng kháng sinh không đúng sẽ dẫn tới sự kháng kháng sinh của hàng loạt vi khuẩn, đồng thời giảm chi phí, giảm tác dụng phụ của kháng sinh cũng là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ứng dụng lâm sàng của PCT</span><br />
<br />
Năm 2006 Hiệp hội nhiễm khuẩn Đức xuất bản các hướng dẫn cho chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn. Trong đó dựa trên các dữ liệu từ hơn 700 thử nghiệm lâm sàng, PCT được đánh giá theo các tiêu chí cho y học bằng chứng.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Giá trị nồng độ PCT được khuyến cáo sử dụng như sau:</span></span><br />
Giá trị bình thường: PCT &lt; 0,05 ng/ml<br />
Giá trị PCT &lt; 0,10ng/ml: Không chỉ định dùng kháng sinh<br />
Giá trị PCT &lt; 0,25ng/ml: Không khuyến cáo dùng kháng sinh, nếu trị liệu giảm xuống mức này thì tiếp tục dùng cho hiệu quả.<br />
Giá trị PCT &gt; 0,25ng/ml: Khuyến cáo và cân nhắc sử dụng kháng sinh.<br />
Giá trị PCT &gt; 0,50 ng/ml: Chỉ định kháng sinh là bắt buộc.<br />
Giá trị PCT 0,50 - 2,0 (ng/ml): Nhiễm khuẩn do đáp ứng viêm hệ thống tương đối, nguyên nhân có thể là chấn thương, phẫu thuật sau chấn thương, sốc tim...<br />
Giá trị PCT 2,0 - 10 (ng/ml): Đáp ứng viêm hệ thống nghiêm trọng (SIRS), nguyên nhân bởi nhiễm trùng hệ thống và nhiễm khuẩn huyết, chưa có suy đa tạng.<br />
Giá trị PCT &gt; 10 ng/ml: Đáp ứng viêm hệ thống sâu do nhiễm khuẩn huyết nghiêm trọng hoặc sốc nhiễm khuẩn.<br />
<br />
Khi nghiên cứu hơn 200 bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (2004), tác giả Christ Crain và cộng sự nhận thấy 73% bệnh nhân trong nhóm chuẩn được chỉ định dùng kháng sinh, trong khi chỉ có 23% bệnh nhân trong nhóm điều trị theo nồng độ PCT dùng kháng sinh cho kết quả tương đương. Dựa theo trị số của PCT có 10% bệnh nhân viêm phổi không có chỉ định dùng kháng sinh. Điều này gợi ý cho sự cần thiết tìm những nguyên nhân viêm phổi không do vi khuẩn( VD: viêm phổi do virus, tắc mạch phổi, khối u...). Trong nhi khoa PCT giúp chẩn đoán sớm nhiễm khuẩn xâm lấn với độ chính xác cao ( sốt &lt;12 giờ), đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân nặng de dọa mạng sống của trẻ. Ngoài ra, PCT còn được chứng minh tiên lượng được biến chứng, diễn biến của nhiễm khuẩn huyết. PCT có thể còn giúp phân biệt giữa nhiễm khuẩn huyết và SIRS, phân biệt giữa nhiễm khuẩn và thải ghép... Tóm lại những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn huyết, bệnh nhân đang có nguy cơ đặc biệt (sau phẫu thuật, trung hoà miễn dịch...) là những bệnh nhân nên được định lượng PCT theo dõi và các nhà nghiên cứu khuyến cáo :trong trường hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết nên xét nghiệm PCT ngay, nếu âm tính nên lặp lại 6 giờ một lần để bắt được đáp ứng chẩn đoán sớm nhất.<br />
<br />
Để theo dõi diễn biến của bệnh và hiệu quả của điều trị nên thực hiện xét nghiệm PCT một ngày một lần. Nếu nồng độ PCT giảm 30-50% theo ngày thì nhiễm khuẩn đã được kiểm soát. Ngoài ra trong ứng dụng trị liệu kháng sinh dựa trên giám sát nồng độ PCT, các nhà nghiên cứu về PCT cũng khuyến cáo :<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 1 Ngừng kháng sinh nếu:</span></span><br />
<br />
Nồng độ PCT giảm &lt;0,1 ng/ml hoặc &gt; 80% NO và<br />
Tình trạng lâm sàng cải thiện đáng kể <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 2 Đổi kháng sinh khác nếu:</span></span><br />
<br />
Nồng độ PCT không giảm và<br />
Triệu chứng lâm sàng tồn tại hoặc tăng thêm dấu hiệu nhiễm trùng. <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 3:Tiếp tục kháng sinh đang dùng nếu:</span></span><br />
<br />
Triệu chứng lâm sàng được cải thiện<br />
Nồng độ PCT không ứng với trường hợp 1 và 2. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tóm lại</span>: PCT với những giá trị vượt trội như trên đã chứng tỏ là một công cụ đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân và phân biệt được các mức độ, đồng thời sử dụng động học của PCT kết hợp với các dữ liệu lâm sàng là phương tiện theo dõi hiệu quả diễn biến bệnh lý nhiễm trùng và trị liệu kháng sinh tin cậy, qua đó làm giảm thời gian sử dụng kháng sinh, giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và quan trọng là giảm chi phí điều trị...Xét nghiệm định lượng PCT hiện có khả năng thực hiện được tại khoa Hoá sinh bệnh viện Bạch Mai với kỹ thuật miễn dịch điện hoá phát quang trên hệ thống Modular Analytics E170 ( Roche Diagnostics).<br />
<br />
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">DS.CKII Nguyễn Thị Hương<br />
Nguồn: Bacsinoitru.vn</span></span></div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Ngay từ năm 1914, nhiễm khuẩn huyết (sepsis) đã được định nghĩa là sự đáp ứng viêm hệ thống của cơ thể với nhiễm trùng. Cho đến nay, kết quả của các nhà điều tra dịch tễ học cho thấy nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn vẫn là những nguyên nhân chính gây tử vong tại các khoa điều trị tích cực, kể cả những khoa điều trị tích cực hiện đại. Tại Mỹ và châu Âu tỉ lệ này là 40 -50%, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của rối loạn chức năng các cơ quan trong cơ thể. Nhiễm khuẩn huyết thường được chẩn đoán qua các tiêu chí: nhiệt độ, nhịp tim, số lượng bạch cầu..., tuy nhiên các tiêu chuẩn này thường không đặc hiệu và hiện diện trong nhiều bệnh lý khác nhau, vài tiêu chuẩn thường dễ phát hiện và vài tiêu chuẩn ngay cả trong nhiễm khuẩn huyết vẫn không thấy hiện diện. Vì vậy, các nhà lâm sàng rất khó đưa ra tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán và loại trừ nhiễm khuẩn huyết. <br />
<br />
Thực tế tại các bệnh viện đặc biệt là khoa điều trị tích cực(ICU) là nơi có tần xuất nhiễm khuẩn huyết cao: 33% trên tổng số bệnh nhân nội trú, 50% trên tổng số bệnh nhân cần chăm sóc tích cực và 80% trên tất cả bệnh nhân ICU sau phẫu thuật, đòi hỏi cần phải có chẩn đoán sớm và chính xác tình trạng nhiễm khuẩn huyết. Bệnh nhân nghi ngờ có tình trạng nhiễm khuẩn, việc quyết định có sử dụng kháng sinh hay không có ý nghĩa rất quan trọng vì nếu lạm dụng kháng sinh hay bỏ sót một bệnh lý nhiễm khuẩn đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nếu dùng không đúng dễ gây ra tình trạng đa kháng kháng sinh (Multi Resistence Antibiotic) nguy hiểm. Đó chính là lý do giải thích tại sao cần chẩn đoán sớm nhiễm khuẩn huyết và marker nào đáp ứng được yêu cầu chẩn đoán sớm và chính xác tình trạng nhiễm khuẩn huyết.<br />
<br />
Theo báo cáo của Hội nghị bàn tròn về nhiễm khuẩn huyết tại Canada lần thứ 5( tháng 10 năm 2000), người ta phân loại các marker sinh học được sử dụng trong chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết như sau:<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://media.bacsinoitru.vn/2013/08/17/791untitled.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 791untitled.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Trong số những marker trên người ta nhận thấy: IL-6, CRP có thể tăng thoáng qua bởi nhiều kích thích khác hơn là nhiễm khuẩn, mặt khác endotoxin không cho biết mức độ nặng của quá trình viêm...trong khi PCT có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với các marker khác. Đây là một marker đặc hiệu cho nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết.Nó được sản xuất chuyên biệt bởi nhiễm trùng không do virus, có phạm vi định lượng rất rộng ( từ 0,01ng/ml đến 1000ng/ml trong huyết tương), không bị ảnh hưởng bởi nhiễm virus hoặc các đáp ứng tự miễn khác, thời gian bán hủy dài (24h), nồng độ trong máu độc lập với chức năng thận, điều này đặc biệt quan trọng khi biện luận, đánh giá kết quả. <br />
<br />
Những nghiên cứu về lâm sàng cho thấy PCT giúp phân biệt được có nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn. Nồng độ PCT thấp có giá trị tiên lượng âm tính cao để loại trừ nhiễm khuẩn huyết và ngược lại, nồng độ PCT cao ủng hộ chẩn đoán nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn nhất là khi có rối loạn chức năng các cơ quan, hậu quả của quá trình viêm toàn thân, suy đa tạng. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy PCT có thể rút ngắn thời gian chẩn đoán bệnh, phân biệt được nhiễm khuẩn do vi khuẩn hay siêu vi, theo dõi đáp ứng với điều trị kháng sinh và kiểm soát ổ nhiễm khuẩn tốt hơn các marker khác. Chỉ tính riêng từ năm 1980, xuất bản ấn phẩm đầu tiên về PCT đến năm 1995 có 10 ấn phẩm thì đến năm 2004 số ấn phẩm về PCT đã lên tới hơn 400 ấn phẩm, đã phần nào khẳng định vai trò của PCT trong nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Cấu trúc, đặc tính sinh hóa học của PCT</span><br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_03.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_03.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
PCT là tiền chất của hormone calcitonin, gồm 116 acid amin và hình thành từ gen CALC-1 thuộc nhiễm sắc thể 11 trong hệ thống gen ở người. Sau khi phiên mã từ CT-DNA thành mRNA, sản phẩm đầu tiên là pre-procalcitonin, sản phẩm này qua nhiều biến đổi thành PCT. PCT tiếp tục biến đổi nhờ các enzyme thành các peptid có phân tử lượng nhỏ hơn như: calcitonin (32 acid amin), katacalcin (21 acid amin)...Tất cả các tiền tố từ PCT đến các hormone, peptid... đều có thể phát hiện được trong máu người khỏe mạnh. PCT có nguồn gốc từ tế bào C tuyến giáp, tế bào gan, monocyte (khi có nhiễm khuẩn). Nội độc tố vi khuẩn, cytokin tiền viêm, IL-6 và TNF-α là những dẫn chất chính trong cơ chế tăng sinh PCT, với sự có mặt của mRNA hiện diện trong mọi tế bào, nhưng nơi tổng hợp và giải phóng PCT chủ yếu vẫn là tại gan.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Sơ đồ nguồn gốc PCT</span><br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_04.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_04.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra một giả thuyết về nguồn gốc của PCT khi nhiễm khuẩn. Theo đó PCT không phải là một hormone, cũng không phải là cytokine mà là một hormokine và mô hình biến đổi sau khi phiên mã của các tiền tố calcitonin gồm hai hướng:<br />
<br />
Theo hướng nội tiết thần kinh truyền thống: vị trí tổng hợp PCT ở người khỏe mạnh là các tế bào C của tuyến giáp. Sự biểu hiện của CT-mRNA chỉ xảy ra ở các tế bào nội tiết thần kinh. Quá trình giải phóng calcitonin sau phiên mã chỉ xảy ra ở túi Golgi. Theo hướng này calcitonin đóng vai trò quan trọng trong điều hòa chuyển hóa canxi và phosphate trong xương.<br />
<br />
Theo hướng thay thế trong viêm và nhiễm khuẩn (khả năng tổng hợp PCT liên quan tới nhiễm khuẩn). Các tác nhân khởi tạo cho sự tổng hợp PCT là các cytokine tiền viêm như IL-1, TNF-α hoặc những thành tố của màng tế bào vi sinh vật như peptidoglycan. Hướng tổng hợp này được Muller và cộng sự mô tả lần đầu tiên năm 2001. Sau khi được khởi tạo bởi nhiễm khuẩn, lượng mRNA của PCT có thể được phát hiện trong tất cả các mô nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đầu tiên các bạch cầu đơn nhân gắn kết được kích thích bởi cytokine sẽ giải phóng PCT với lượng thấp( trong vòng 2 giờ). Tuy nhiên đây là giai đoạn tổng hợp rất quan trọng và từ đó nhanh chóng tạo ra một lượng lớn PCT trong tất cả các mô. Trong nhiễm khuẩn lâm sàng, PCT được tạo ra ở hướng thay thế ở tất cả các tế bào nhu mô và bài tiết vào hệ thống tuần hoàn. Hơn nữa, do các tế bào nhu mô là dạng mô phổ biến nhất ở người, điều này lý giải tại sao có thể tạo ra một nồng độ cực lớn PCT( tăng gấp 100 000 lần so với nồng độ sinh lý). Quá trình tổng hợp PCT tiếp tục xảy ra khi nào vẫn còn sự kích thích tổng hợp do nhiễm khuẩn. Các thử nghiệm còn được tiến hành để giải thích tại sao PCT chỉ được tổng hợp khi nhiễm khuẩn mà không phải do nhiễm virus. Theo đó các tế bào được nuôi cấy trong môi trường hoặc chứa IL-1, hoặc chứa cả hai loại IL-1 và INF-α. Kết quả cho thấy, các tế bào chỉ được sử lý với IL-1 vẫn tổng hợp PCT. Ngược lại, được nuôi cấy với IL-1 và INF-α không có tổng hợp PCT. Kết quả này cho thấy INF-α là tác nhân ức chế quá trình tổng hợp PCT. Các tế bào bị nhiễm virus luôn giải phóng INF-α, đó chính cơ sở cho thực tế sử dụng PCT như một công cụ hiệu quả để phân biệt nhiễm khuẩn với nhiễm virus.<br />
<br />
<div style="text-align: center;" class="mycode_align"><img src="http://bachmai.gov.vn/images/stories/hoat_dong_bv/hoasinh_07.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: hoasinh_07.jpg]" class="mycode_img" /></div>
<br />
So với các marker khác, PCT có tính đặc hiệu cao khi đáp ứng với nhiễm khuẩn toàn thân nặng. Trong nhiễm khuẩn, nồng độ PCT sẽ gia tăng và có thể phát hiện được sau 2 giờ, trong khi đó CRP bắt đầu tăng sau khoảng 6 giờ. Các cytokine có thể tăng sớm hơn song thời gian bán hủy nhanh, kỹ thuật định lượng đòi hỏi phức tạp hơn nên ít thích hợp trong điều kiện hiện nay. Với ưu điểm về động học như vậy nên PCT thích hợp được sử dụng để hướng dẫn điều trị và đánh giá tiên lượng bệnh. Khi tình trạng nhiễm khuẩn được hồi phục, PCT sẽ quay trở lại giá trị sinh lý. Vì vậy, diễn biến nồng độ PCT có thể được sử dụng để theo dõi diễn biến và tiên lượng nhiễm khuẩn hệ thống nghiêm trọng đồng thời là cơ sở để điều chỉnh các quyết định điều trị hiệu quả. Việc sử dụng động học của PCT kết hợp với các dữ liệu lâm sàng để quyết định thời điểm bắt đầu và thời gian sử dụng kháng sinh tùy theo từng trường hợp cụ thể là rất thiết thực đối với các thầy thuốc lâm sàng. Điều này cũng đặc biệt có ý nghĩa vì sử dụng kháng sinh không đúng sẽ dẫn tới sự kháng kháng sinh của hàng loạt vi khuẩn, đồng thời giảm chi phí, giảm tác dụng phụ của kháng sinh cũng là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ứng dụng lâm sàng của PCT</span><br />
<br />
Năm 2006 Hiệp hội nhiễm khuẩn Đức xuất bản các hướng dẫn cho chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn. Trong đó dựa trên các dữ liệu từ hơn 700 thử nghiệm lâm sàng, PCT được đánh giá theo các tiêu chí cho y học bằng chứng.<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Giá trị nồng độ PCT được khuyến cáo sử dụng như sau:</span></span><br />
Giá trị bình thường: PCT &lt; 0,05 ng/ml<br />
Giá trị PCT &lt; 0,10ng/ml: Không chỉ định dùng kháng sinh<br />
Giá trị PCT &lt; 0,25ng/ml: Không khuyến cáo dùng kháng sinh, nếu trị liệu giảm xuống mức này thì tiếp tục dùng cho hiệu quả.<br />
Giá trị PCT &gt; 0,25ng/ml: Khuyến cáo và cân nhắc sử dụng kháng sinh.<br />
Giá trị PCT &gt; 0,50 ng/ml: Chỉ định kháng sinh là bắt buộc.<br />
Giá trị PCT 0,50 - 2,0 (ng/ml): Nhiễm khuẩn do đáp ứng viêm hệ thống tương đối, nguyên nhân có thể là chấn thương, phẫu thuật sau chấn thương, sốc tim...<br />
Giá trị PCT 2,0 - 10 (ng/ml): Đáp ứng viêm hệ thống nghiêm trọng (SIRS), nguyên nhân bởi nhiễm trùng hệ thống và nhiễm khuẩn huyết, chưa có suy đa tạng.<br />
Giá trị PCT &gt; 10 ng/ml: Đáp ứng viêm hệ thống sâu do nhiễm khuẩn huyết nghiêm trọng hoặc sốc nhiễm khuẩn.<br />
<br />
Khi nghiên cứu hơn 200 bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (2004), tác giả Christ Crain và cộng sự nhận thấy 73% bệnh nhân trong nhóm chuẩn được chỉ định dùng kháng sinh, trong khi chỉ có 23% bệnh nhân trong nhóm điều trị theo nồng độ PCT dùng kháng sinh cho kết quả tương đương. Dựa theo trị số của PCT có 10% bệnh nhân viêm phổi không có chỉ định dùng kháng sinh. Điều này gợi ý cho sự cần thiết tìm những nguyên nhân viêm phổi không do vi khuẩn( VD: viêm phổi do virus, tắc mạch phổi, khối u...). Trong nhi khoa PCT giúp chẩn đoán sớm nhiễm khuẩn xâm lấn với độ chính xác cao ( sốt &lt;12 giờ), đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân nặng de dọa mạng sống của trẻ. Ngoài ra, PCT còn được chứng minh tiên lượng được biến chứng, diễn biến của nhiễm khuẩn huyết. PCT có thể còn giúp phân biệt giữa nhiễm khuẩn huyết và SIRS, phân biệt giữa nhiễm khuẩn và thải ghép... Tóm lại những bệnh nhân nghi ngờ nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn huyết, bệnh nhân đang có nguy cơ đặc biệt (sau phẫu thuật, trung hoà miễn dịch...) là những bệnh nhân nên được định lượng PCT theo dõi và các nhà nghiên cứu khuyến cáo :trong trường hợp nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết nên xét nghiệm PCT ngay, nếu âm tính nên lặp lại 6 giờ một lần để bắt được đáp ứng chẩn đoán sớm nhất.<br />
<br />
Để theo dõi diễn biến của bệnh và hiệu quả của điều trị nên thực hiện xét nghiệm PCT một ngày một lần. Nếu nồng độ PCT giảm 30-50% theo ngày thì nhiễm khuẩn đã được kiểm soát. Ngoài ra trong ứng dụng trị liệu kháng sinh dựa trên giám sát nồng độ PCT, các nhà nghiên cứu về PCT cũng khuyến cáo :<br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 1 Ngừng kháng sinh nếu:</span></span><br />
<br />
Nồng độ PCT giảm &lt;0,1 ng/ml hoặc &gt; 80% NO và<br />
Tình trạng lâm sàng cải thiện đáng kể <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 2 Đổi kháng sinh khác nếu:</span></span><br />
<br />
Nồng độ PCT không giảm và<br />
Triệu chứng lâm sàng tồn tại hoặc tăng thêm dấu hiệu nhiễm trùng. <br />
<br />
<span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Trường hợp 3:Tiếp tục kháng sinh đang dùng nếu:</span></span><br />
<br />
Triệu chứng lâm sàng được cải thiện<br />
Nồng độ PCT không ứng với trường hợp 1 và 2. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Tóm lại</span>: PCT với những giá trị vượt trội như trên đã chứng tỏ là một công cụ đáng tin cậy để chẩn đoán nhiễm khuẩn đặc biệt là nhiễm khuẩn toàn thân và phân biệt được các mức độ, đồng thời sử dụng động học của PCT kết hợp với các dữ liệu lâm sàng là phương tiện theo dõi hiệu quả diễn biến bệnh lý nhiễm trùng và trị liệu kháng sinh tin cậy, qua đó làm giảm thời gian sử dụng kháng sinh, giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc và quan trọng là giảm chi phí điều trị...Xét nghiệm định lượng PCT hiện có khả năng thực hiện được tại khoa Hoá sinh bệnh viện Bạch Mai với kỹ thuật miễn dịch điện hoá phát quang trên hệ thống Modular Analytics E170 ( Roche Diagnostics).<br />
<br />
<div style="text-align: right;" class="mycode_align"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">DS.CKII Nguyễn Thị Hương<br />
Nguồn: Bacsinoitru.vn</span></span></div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[NT-proBNP: một xét nghiệm mới để chẩn đoán, theo dõi, tiên lượng và sàng lọc suy tim]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2457.html</link>
			<pubDate>Fri, 24 May 2013 01:58:29 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=990">phuhmtu</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2457.html</guid>
			<description><![CDATA[(PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện MEDLATEC) - Trong những năm gần đây, giá trị lâm sàng của xét nghiệm NT-proBNP (N-terminal pro B-type natriuretic peptide) trong chẩn đoán suy tim xung huyết đã vượt quá sự mong đợi, khi nó còn có ý nghĩa rộng lớn hơn về chẩn đoán, theo dõi điều trị, tiên lượng và sàng lọc khá nhiều tình trạng suy tim và hội chứng khác ngoài tim trong y học hiện đại.<br />
<br />
Hiện nay, NT-proBNP được định lượng bằng phương pháp định lượng miễn dịch điện hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay) với máy phân tích miễn dịch Roche Elecsys 1010/2010, được thực hiện tại Bệnh viện MEDLATEC<br />
1. Sinh học của NT-proBNP<br />
<br />
<br />
NT-proBNP là peptid gồm 76 gốc acid amin. Tiền thân của NT-proBNP là pre-pro-peptid gồm 134 gốc acid amin. Pre-pro-peptid tách ra thành proBNP (108 gốc acid amin-một phân tử tiền thân được lưu trữ trong các hạt bài tiết trong các tế bào cơ) và một đoạn peptid tín hiệu (26 gốc acid amin). Khi được giải phóng vào máu, proBNP bị thủy phân bởi một emzym protease là furin tạo thành NT-proBNP (76 gốc acid amin, không có hoạt tính sinh học) và BNP (32 gốc acid amin, có hoạt tính sinh học) [3]. Ở người, NT-proBNP và BNP có hàm lượng lớn trong cơ tâm thất trái, nhưng cũng có một ít trong mô tâm nhĩ cũng như trong cơ tâm thất phải. BNP được thải trừ qua nhiều cơ chế, gồm cả sự tham gia của receptor, enzym endopeptidase và nhiều cơ quan, kể cả thận; trong khi NT-proBNP được thải trừ thụ động, chủ yếu qua thận [3]. Vì NT-proBNP có thời gian bán hủy (half-life) là khoảng 60-120 phút, dài hơn thời gian bán hủy của BNP (18 phút) và có độ ổn định hơn BNP nên NT-proBNP có độ nhạy hơn và hiện nay nó được sử dụng thông dụng hơn BNP trong chẩn đoán lâm sàng [3].<br />
<br />
<br />
2. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm NT-proBNP huyết tương có thể được chỉ định để:<br />
<br />
2.1. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt suy tim:<br />
<br />
- Xác định hoặc loại trừ suy tim ở các bệnh nhân khó thở cấp.<br />
<br />
- Chẩn đoán xác định hoặc loại trừ suy tim ở bệnh nhân có nguy cơ suy tim (đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành), bệnh nhân suy tim đã được chẩn đoán, chẩn đoán phân biệt suy tim với các bệnh lý khác (ví dụ: bệnh phổi).<br />
<br />
- Chẩn đoán suy tim trong trường hợp khám lâm sàng hoặc siêu âm khó thực hiện (như bệnh nhân béo phì, quá già hoặc trẻ em).<br />
<br />
- Chẩn đoán suy tim ở bệnh nhi và sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh.<br />
<br />
- Chẩn đoán phân biệt tăng NT-proBNP ở các bệnh lý không phải suy tim: bệnh cơ tim (bệnh cơ tim phì đại, cơ tim thâm nhiễm, viêm cơ tim), bệnh van tim (hẹp và hở van động mạch chủ, hẹp và hở van hai lá), rối loạn nhịp nhĩ, thiếu máu, bệnh nặng (sốc nhiễm khuẩn, sốc do bỏng, hội chứng suy hô hấp ở người lớn), đột quỵ do nhồi máu não, các hội chứng tâm phế (khó thở khi ngủ, tăng áp phổi, tim bẩm sinh).<br />
<br />
2.2. Theo dõi diễn biến và hiệu quả điều trị suy tim:<br />
<br />
- Theo dõi lâu dài bệnh nhân suy tim mạn.<br />
<br />
- Đánh giá nguy cơ suy tim tái phát, độc tính của thuốc sử dụng hoặc hiệu quả điều trị.<br />
<br />
2.3. Tiên lượng suy tim:<br />
<br />
- Tiên lượng suy tim ở bệnh nhân khó thở hoặc bệnh nhân suy tim đã được chẩn đoán.<br />
<br />
- Tiên lượng suy tim ở bệnh nhi và sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh.<br />
<br />
2.4. Sàng lọc (tầm soát) suy tim:<br />
<br />
- Sàng lọc trong dân số chung [2], đặc biệt chú ý nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tim cao như người già trên 60 tuổi, bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, ...<br />
<br />
- Sàng lọc nguy cơ suy tim ở các bệnh nhân trước và sau phẫu thuật các cơ quan khác.<br />
<br />
- Sàng lọc để phát hiện sớm nguy cơ suy tim ở các đối tượng có nguy cơ bị bệnh tim mạch (béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, suy thận).<br />
<br />
 <br />
<br />
3. Giá trị bình thường và thay đổi trong suy tim<br />
<br />
Giá trị bình thường của NT-proBNP huyết tương thay đổi theo tuổi: &gt; 50 tuổi là 50 pg/mL, 50-75 tuổi là 75-100 pg/mL và &lt; 75 tuổi là 250-300 pg/mL; một điểm cắt chung cho cả hai giới là 125 pg/mL.<br />
<br />
Nồng độ NT-proBNP huyết tương thay đổi theo mức độ suy tim:<br />
<br />
3.1. Điểm cắt (cut-off) tối ưu của NT-proBNP để loại trừ suy tim mạn là (Bảng 1):<br />
 <br />
<br />
Bảng 1: Điểm cắt của NT-proBNP huyết tương (pg/mL) để loại trừ suy tim mạn<br />
<br />
[table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]điểm cắt loại trừ suy tim mạn[/td][td]&amp;lt;125 pg/mL[/td][td]88[/td][td]92[/td][td]80,6[/td][td]96,7[/td][/tr][/table]<br />
<br />
3.2. Điểm cắt tối ưu của NT-proBNP để loại trừ suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở là (Bảng 2):<br />
<br />
Bảng 2: Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để loại trừ suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở [7]<br />
<br />
 [table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]điểm cắt loại trừ suy tim cấp[/td][td]&amp;lt;&lt;300 pg/mL[/td][td]99[/td][td]60[/td][td]77[/td][td]98[/td][/tr][/table]<br />
<br />
3.3. Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để chẩn đoán suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở theo tuổi là (Bảng 3):<br />
<br />
Bảng 3: Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để chẩn đoán suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở theo tuổi [7].<br />
<br />
[table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]&amp;lt;50 tuổi[/td][td]&amp;gt;450 pg/mL[/td][td]97[/td][td]93[/td][td]76[/td][td]99[/td][/tr][tr][td]50-75 tuổi[/td][td]&amp;gt;900 pg/mL[/td][td]90[/td][td]82[/td][td]83[/td][td]88[/td][/tr][tr][td]&amp;gt;75 tuổi[/td][td]&amp;gt;1800 pg/mL[/td][td]85[/td][td]73[/td][td]92[/td][td]55[/td][/tr][/table]	<br />
<br />
4. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
<br />
Nồng độ NT-proBNP huyết tương có thể tăng trong các bệnh lý và hội chứng sau:<br />
<br />
4.1. Khó thở cấp/ Suy tim cấp:<br />
<br />
Các điểm cắt tối ưu của NT-proBNP để xác định suy tim cấp đối với các lứa tuổi &gt; 50, 50-75 và &lt; 75 là 450, 900 và 1800 pg/mL. Điểm cắt không phụ thuộc tuổi NT-proBNP &gt; 300 pg/mL có giá trị chẩn đoán âm tính để loại trừ suy tim cấp là 98% [7]. Ở các bệnh nhân suy tim cấp, nồng độ NT-proBNP cao &lt;5180 pg/mL có giá trị tiên lượng về tử vong trong 76 ngày là 95% [7].<br />
<br />
4.2. Suy tim mạn:<br />
<br />
Ở bệnh nhân suy tim mạn, việc đo NT-proBNP lặp lại mỗi lần khám bệnh là cần thiết, nguy cơ tiên lượng nặng khi nồng độ NT-proBNP &lt; 1000 pg/mL [1].<br />
<br />
4.3. Thiếu máu cục bộ cơ tim ổn định và không ổn định:<br />
<br />
Ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim không ổn định nên đo NT-proBNP lặp lại 24-72 giờ, nồng độ NT-proBNP tăng kéo dài &lt; 250 pg/mL dự báo một tiên lượng xấu, nên đo NT-proBNP lặp lại hàng tuần hoặc hàng tháng tùy tình trạng cụ thể.<br />
<br />
4.4. Bệnh nhi và sơ sinh:<br />
<br />
Có thể sử dụng điểm cắt theo lứa tuổi như đối với người &gt; 50 tuổi với nồng độ NT-proBNP &lt; 450 pg/mL để xác định suy tim và &gt; 300 pg/mL để loại trừ suy tim ở trẻ em [6].<br />
<br />
4.5. Bệnh thận:<br />
<br />
Sự tăng nồng độ NT-proBNP huyết tương ở bệnh thận mạn tính không chỉ phản ánh sự giảm đào thải peptid này mà còn khẳng định sự hiện diện bệnh tim ở những bệnh nhân này.<br />
<br />
4.6. Suy tim ở bệnh nhân béo phì:<br />
<br />
Ở bệnh nhân béo phì, nồng độ NT-proBNP huyết tương giảm do tăng thoái hóa và giảm tổng hợp NT-proBNP ở tế bào cơ tim [5]. Vì vậy, để xác định suy tim ở bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì, có thể sử dụng các điểm cắt NT-proBNP đối với bệnh nhân thừa cân là 491 pg/mL và đối với bệnh nhân béo phì là 343 pg/mL.<br />
<br />
4.7. Các bệnh lý ngoài suy tim:<br />
<br />
NT-proBNP có thể tăng trong bệnh cơ tim, bệnh van tim, rối loạn nhịp nhĩ, thiếu máu, bệnh nặng (sốc nhiễm trùng, sốc do các nguyên nhân khác), đột quỵ do nhồi máu não, các hội chứng tâm phế, bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp. Nguyên nhân chung tăng NT-proBNP của các bệnh này có thể do mô cơ tim bị thiếu máu hoặc thiếu oxy.<br />
<br />
Tài liệu tham khảo<br />
<br />
1. Cohn JN, Tognoni G (2001). A randomized trial of the angiotensin-receptor bloker valsartan in chronic heart failure. N Engl J Med; 345: 1667-1675.<br />
2. Groenning BA, Raymond I, Hildebrandt PR, Nilsson JC, Baumann M, Pedersen F (2004). Diagnostic and prognostic evaluation of left ventricular systolic heart failure by plasma N-terminal pro-brain natriuretic peptide concentrations in a large sample of the general population. Heart; 90 (3): 297-303.<br />
3. Januzzi James L, Sakhuja Rahul (2004). NT-proBNP A new test for Diagnosis, Prognosis and Management of Congestive Heart Failure. US Cardiology: 1-5.<br />
<br />
4. Lainchbury JG, Campbell E, Frampton CM, Yandle TG, Nicholls MG, Richards AM (2003). Brain natriuretic peptide and n-terminal brain natriuretic peptide in the diagnosis of heart failure in patients with acute shortness of breath. J Am Coll Cardiol; 42 (4): 728-735.<br />
<br />
5. McCord J, Mundy BJ, Hudson MP et al (2004). Relationship between obesity and B-type natriuretic peptide levels. Arch Intern Med; 164: 2247-2252.<br />
<br />
6. Nir A, Nasser N (2005). Clinical value of NT-proBNP and BNP in pediatric cardiology. J Card Fail; 11(5): S76-80.<br />
<br />
7. Januzzi JL, van Kimmenade R, Lainchbury J, etal (2006). NT-proBNP testing for diagnosis and short-term prognosis in acute destabilized heart failure: an international pooled analysis of 1256 patients. The International Collaborative of NT-proBNP Study. Eur Heart J; 27(3): 330-337.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[(PGS TS Nguyễn Nghiêm Luật, Bệnh viện MEDLATEC) - Trong những năm gần đây, giá trị lâm sàng của xét nghiệm NT-proBNP (N-terminal pro B-type natriuretic peptide) trong chẩn đoán suy tim xung huyết đã vượt quá sự mong đợi, khi nó còn có ý nghĩa rộng lớn hơn về chẩn đoán, theo dõi điều trị, tiên lượng và sàng lọc khá nhiều tình trạng suy tim và hội chứng khác ngoài tim trong y học hiện đại.<br />
<br />
Hiện nay, NT-proBNP được định lượng bằng phương pháp định lượng miễn dịch điện hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay) với máy phân tích miễn dịch Roche Elecsys 1010/2010, được thực hiện tại Bệnh viện MEDLATEC<br />
1. Sinh học của NT-proBNP<br />
<br />
<br />
NT-proBNP là peptid gồm 76 gốc acid amin. Tiền thân của NT-proBNP là pre-pro-peptid gồm 134 gốc acid amin. Pre-pro-peptid tách ra thành proBNP (108 gốc acid amin-một phân tử tiền thân được lưu trữ trong các hạt bài tiết trong các tế bào cơ) và một đoạn peptid tín hiệu (26 gốc acid amin). Khi được giải phóng vào máu, proBNP bị thủy phân bởi một emzym protease là furin tạo thành NT-proBNP (76 gốc acid amin, không có hoạt tính sinh học) và BNP (32 gốc acid amin, có hoạt tính sinh học) [3]. Ở người, NT-proBNP và BNP có hàm lượng lớn trong cơ tâm thất trái, nhưng cũng có một ít trong mô tâm nhĩ cũng như trong cơ tâm thất phải. BNP được thải trừ qua nhiều cơ chế, gồm cả sự tham gia của receptor, enzym endopeptidase và nhiều cơ quan, kể cả thận; trong khi NT-proBNP được thải trừ thụ động, chủ yếu qua thận [3]. Vì NT-proBNP có thời gian bán hủy (half-life) là khoảng 60-120 phút, dài hơn thời gian bán hủy của BNP (18 phút) và có độ ổn định hơn BNP nên NT-proBNP có độ nhạy hơn và hiện nay nó được sử dụng thông dụng hơn BNP trong chẩn đoán lâm sàng [3].<br />
<br />
<br />
2. Chỉ định<br />
<br />
Xét nghiệm NT-proBNP huyết tương có thể được chỉ định để:<br />
<br />
2.1. Chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt suy tim:<br />
<br />
- Xác định hoặc loại trừ suy tim ở các bệnh nhân khó thở cấp.<br />
<br />
- Chẩn đoán xác định hoặc loại trừ suy tim ở bệnh nhân có nguy cơ suy tim (đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành), bệnh nhân suy tim đã được chẩn đoán, chẩn đoán phân biệt suy tim với các bệnh lý khác (ví dụ: bệnh phổi).<br />
<br />
- Chẩn đoán suy tim trong trường hợp khám lâm sàng hoặc siêu âm khó thực hiện (như bệnh nhân béo phì, quá già hoặc trẻ em).<br />
<br />
- Chẩn đoán suy tim ở bệnh nhi và sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh.<br />
<br />
- Chẩn đoán phân biệt tăng NT-proBNP ở các bệnh lý không phải suy tim: bệnh cơ tim (bệnh cơ tim phì đại, cơ tim thâm nhiễm, viêm cơ tim), bệnh van tim (hẹp và hở van động mạch chủ, hẹp và hở van hai lá), rối loạn nhịp nhĩ, thiếu máu, bệnh nặng (sốc nhiễm khuẩn, sốc do bỏng, hội chứng suy hô hấp ở người lớn), đột quỵ do nhồi máu não, các hội chứng tâm phế (khó thở khi ngủ, tăng áp phổi, tim bẩm sinh).<br />
<br />
2.2. Theo dõi diễn biến và hiệu quả điều trị suy tim:<br />
<br />
- Theo dõi lâu dài bệnh nhân suy tim mạn.<br />
<br />
- Đánh giá nguy cơ suy tim tái phát, độc tính của thuốc sử dụng hoặc hiệu quả điều trị.<br />
<br />
2.3. Tiên lượng suy tim:<br />
<br />
- Tiên lượng suy tim ở bệnh nhân khó thở hoặc bệnh nhân suy tim đã được chẩn đoán.<br />
<br />
- Tiên lượng suy tim ở bệnh nhi và sơ sinh bị bệnh tim bẩm sinh.<br />
<br />
2.4. Sàng lọc (tầm soát) suy tim:<br />
<br />
- Sàng lọc trong dân số chung [2], đặc biệt chú ý nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh tim cao như người già trên 60 tuổi, bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, ...<br />
<br />
- Sàng lọc nguy cơ suy tim ở các bệnh nhân trước và sau phẫu thuật các cơ quan khác.<br />
<br />
- Sàng lọc để phát hiện sớm nguy cơ suy tim ở các đối tượng có nguy cơ bị bệnh tim mạch (béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, suy thận).<br />
<br />
 <br />
<br />
3. Giá trị bình thường và thay đổi trong suy tim<br />
<br />
Giá trị bình thường của NT-proBNP huyết tương thay đổi theo tuổi: &gt; 50 tuổi là 50 pg/mL, 50-75 tuổi là 75-100 pg/mL và &lt; 75 tuổi là 250-300 pg/mL; một điểm cắt chung cho cả hai giới là 125 pg/mL.<br />
<br />
Nồng độ NT-proBNP huyết tương thay đổi theo mức độ suy tim:<br />
<br />
3.1. Điểm cắt (cut-off) tối ưu của NT-proBNP để loại trừ suy tim mạn là (Bảng 1):<br />
 <br />
<br />
Bảng 1: Điểm cắt của NT-proBNP huyết tương (pg/mL) để loại trừ suy tim mạn<br />
<br />
[table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]điểm cắt loại trừ suy tim mạn[/td][td]&amp;lt;125 pg/mL[/td][td]88[/td][td]92[/td][td]80,6[/td][td]96,7[/td][/tr][/table]<br />
<br />
3.2. Điểm cắt tối ưu của NT-proBNP để loại trừ suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở là (Bảng 2):<br />
<br />
Bảng 2: Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để loại trừ suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở [7]<br />
<br />
 [table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]điểm cắt loại trừ suy tim cấp[/td][td]&amp;lt;&lt;300 pg/mL[/td][td]99[/td][td]60[/td][td]77[/td][td]98[/td][/tr][/table]<br />
<br />
3.3. Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để chẩn đoán suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở theo tuổi là (Bảng 3):<br />
<br />
Bảng 3: Điểm cắt tối ưu NT-proBNP để chẩn đoán suy tim cấp ở bệnh nhân khó thở theo tuổi [7].<br />
<br />
[table=95][tr][td]phân loại[/td][td]điểm cắt tối ưu[/td][td]độ nhạy (%)[/td][td]độ đặc hiệu (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán dương tính (%)[/td][td]giá trị chẩn đoán âm tính (%)[/td][/tr][tr][td]&amp;lt;50 tuổi[/td][td]&amp;gt;450 pg/mL[/td][td]97[/td][td]93[/td][td]76[/td][td]99[/td][/tr][tr][td]50-75 tuổi[/td][td]&amp;gt;900 pg/mL[/td][td]90[/td][td]82[/td][td]83[/td][td]88[/td][/tr][tr][td]&amp;gt;75 tuổi[/td][td]&amp;gt;1800 pg/mL[/td][td]85[/td][td]73[/td][td]92[/td][td]55[/td][/tr][/table]	<br />
<br />
4. Ý nghĩa lâm sàng<br />
<br />
<br />
Nồng độ NT-proBNP huyết tương có thể tăng trong các bệnh lý và hội chứng sau:<br />
<br />
4.1. Khó thở cấp/ Suy tim cấp:<br />
<br />
Các điểm cắt tối ưu của NT-proBNP để xác định suy tim cấp đối với các lứa tuổi &gt; 50, 50-75 và &lt; 75 là 450, 900 và 1800 pg/mL. Điểm cắt không phụ thuộc tuổi NT-proBNP &gt; 300 pg/mL có giá trị chẩn đoán âm tính để loại trừ suy tim cấp là 98% [7]. Ở các bệnh nhân suy tim cấp, nồng độ NT-proBNP cao &lt;5180 pg/mL có giá trị tiên lượng về tử vong trong 76 ngày là 95% [7].<br />
<br />
4.2. Suy tim mạn:<br />
<br />
Ở bệnh nhân suy tim mạn, việc đo NT-proBNP lặp lại mỗi lần khám bệnh là cần thiết, nguy cơ tiên lượng nặng khi nồng độ NT-proBNP &lt; 1000 pg/mL [1].<br />
<br />
4.3. Thiếu máu cục bộ cơ tim ổn định và không ổn định:<br />
<br />
Ở bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim không ổn định nên đo NT-proBNP lặp lại 24-72 giờ, nồng độ NT-proBNP tăng kéo dài &lt; 250 pg/mL dự báo một tiên lượng xấu, nên đo NT-proBNP lặp lại hàng tuần hoặc hàng tháng tùy tình trạng cụ thể.<br />
<br />
4.4. Bệnh nhi và sơ sinh:<br />
<br />
Có thể sử dụng điểm cắt theo lứa tuổi như đối với người &gt; 50 tuổi với nồng độ NT-proBNP &lt; 450 pg/mL để xác định suy tim và &gt; 300 pg/mL để loại trừ suy tim ở trẻ em [6].<br />
<br />
4.5. Bệnh thận:<br />
<br />
Sự tăng nồng độ NT-proBNP huyết tương ở bệnh thận mạn tính không chỉ phản ánh sự giảm đào thải peptid này mà còn khẳng định sự hiện diện bệnh tim ở những bệnh nhân này.<br />
<br />
4.6. Suy tim ở bệnh nhân béo phì:<br />
<br />
Ở bệnh nhân béo phì, nồng độ NT-proBNP huyết tương giảm do tăng thoái hóa và giảm tổng hợp NT-proBNP ở tế bào cơ tim [5]. Vì vậy, để xác định suy tim ở bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì, có thể sử dụng các điểm cắt NT-proBNP đối với bệnh nhân thừa cân là 491 pg/mL và đối với bệnh nhân béo phì là 343 pg/mL.<br />
<br />
4.7. Các bệnh lý ngoài suy tim:<br />
<br />
NT-proBNP có thể tăng trong bệnh cơ tim, bệnh van tim, rối loạn nhịp nhĩ, thiếu máu, bệnh nặng (sốc nhiễm trùng, sốc do các nguyên nhân khác), đột quỵ do nhồi máu não, các hội chứng tâm phế, bệnh nhân đái tháo đường và tăng huyết áp. Nguyên nhân chung tăng NT-proBNP của các bệnh này có thể do mô cơ tim bị thiếu máu hoặc thiếu oxy.<br />
<br />
Tài liệu tham khảo<br />
<br />
1. Cohn JN, Tognoni G (2001). A randomized trial of the angiotensin-receptor bloker valsartan in chronic heart failure. N Engl J Med; 345: 1667-1675.<br />
2. Groenning BA, Raymond I, Hildebrandt PR, Nilsson JC, Baumann M, Pedersen F (2004). Diagnostic and prognostic evaluation of left ventricular systolic heart failure by plasma N-terminal pro-brain natriuretic peptide concentrations in a large sample of the general population. Heart; 90 (3): 297-303.<br />
3. Januzzi James L, Sakhuja Rahul (2004). NT-proBNP A new test for Diagnosis, Prognosis and Management of Congestive Heart Failure. US Cardiology: 1-5.<br />
<br />
4. Lainchbury JG, Campbell E, Frampton CM, Yandle TG, Nicholls MG, Richards AM (2003). Brain natriuretic peptide and n-terminal brain natriuretic peptide in the diagnosis of heart failure in patients with acute shortness of breath. J Am Coll Cardiol; 42 (4): 728-735.<br />
<br />
5. McCord J, Mundy BJ, Hudson MP et al (2004). Relationship between obesity and B-type natriuretic peptide levels. Arch Intern Med; 164: 2247-2252.<br />
<br />
6. Nir A, Nasser N (2005). Clinical value of NT-proBNP and BNP in pediatric cardiology. J Card Fail; 11(5): S76-80.<br />
<br />
7. Januzzi JL, van Kimmenade R, Lainchbury J, etal (2006). NT-proBNP testing for diagnosis and short-term prognosis in acute destabilized heart failure: an international pooled analysis of 1256 patients. The International Collaborative of NT-proBNP Study. Eur Heart J; 27(3): 330-337.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Anti-CCP - một xét nghiệm bổ sung cho chẩn đoán viêm khớp dạng thấp]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2126.html</link>
			<pubDate>Thu, 28 Mar 2013 16:05:33 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=2351">TuấnMEDLATEC</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-2126.html</guid>
			<description><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp [2]. <br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung. <br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn [1, 3].<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e, được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC số 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
 1. Chỉ định<br />
          Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
            - Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp. <br />
2. Giá trị bình thường:<br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng <br />
	Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng [1, 3, 4, 5]. <br />
            - Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn. <br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác. <br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid arthritis-RA) là một trong các bệnh tự miễn phổ biến nhất, ảnh hưởng đến 0,5 -1% dân số thế giới. Bệnh có tính chất hệ thống này được đặc trưng bởi sự viêm mạn của các khớp và thoái hóa khớp tiến triển, dẫn đến mất chức năng của khớp [2]. <br />
Việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được thường dựa vào những biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm như yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), protein phản ứng C (C-reactive protein - CRP) và tốc độ máu lắng. Tuy nhiên, RF không hoàn toàn đặc hiệu cho viêm khớp dạng thấp, cũng có thể xuất hiện ở những người già khỏe mạnh hoặc ở những bệnh nhân bị các bệnh tự miễn hoặc nhiễm khuẩn khác; còn CRP và máu lắng là dấu hiệu của phản ứng viêm nói chung. <br />
Gần đây, việc định lượng tự kháng thể IgG kháng peptid citrullin mạch vòng (antibody to cyclic citrullinated peptide - anti-CCP), một kỹ thuật định lượng anti-CCP thế hệ 2 (second-generation anti-CCP assay) trong huyết thanh hoặc huyết tương, đặc hiệu hơn với viêm khớp dạng thấp, đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh này hiệu quả hơn [1, 3].<br />
<br />
Hiện nay, anti-CCP được định lượng bằng kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang (electrochemiluminescence immunoassay- “ECLIA”) bằng máy phân tích miễn dịch Elecsys – Cobas e, được thực hiện hàng ngày tại Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC số 42 Nghĩa Dũng, Ba Đình, Hà Nội.<br />
 1. Chỉ định<br />
          Xét nghiệm anti-CCP không được khuyến cáo sử dụng như là một xét nghiệm sàng lọc, nó được chỉ định trong các trường hợp sau:<br />
            - Được chỉ định cùng với xét nghiệm RF để giúp chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng được chỉ định tiếp sau một xét nghiệm RF (-) tính, nhưng bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như đau khớp và viêm khớp đối xứng, làm cho người thầy thuốc nghi ngờ bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp.<br />
- Cũng có thể được chỉ định để giúp đánh giá sự tiến triển viêm khớp dạng thấp ở các bệnh nhân viêm khớp không đặc hiệu, có một số triệu chứng lâm sàng gợi ý nhưng không hội đủ các tiêu chuẩn của một viêm khớp dạng thấp. <br />
2. Giá trị bình thường:<br />
Giá trị của anti-CCP huyết tương người khỏe mạnh bình thường là &lt; 17 U/mL); các giá trị anti-CCP ≥ 17 U/mL được coi là (+) tính.<br />
Đối với bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, với ngưỡng tối ưu (optimal cut-off) của anti-CCP là 17 U/mL, độ nhạy của xét nghiệm là 67,4 % và độ đặc hiệu là 97,0 %.<br />
3. Ý nghĩa lâm sàng <br />
	Về nguyên tắc, các kết quả thu được cần phải được đánh giá trong sự kết hợp với các triệu chứng lâm sàng [1, 3, 4, 5]. <br />
            - Nếu cả anti-CCP (+) tính và RF (+) tính, bệnh nhân nhiều khả năng bị viêm khớp dạng thấp và có thể bệnh đang tiến triến nặng hơn. <br />
- Nếu anti-CCP (+) tính nhưng RF (-) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm hoặc viêm khớp dạng thấp sẽ tiến triển trong tương lai. Theo một nghiên cứu ở Hoa Kỳ, khoảng 95% các bệnh nhân có anti-CCP (+) tính sẽ tiến triển thành viêm khớp dạng thấp trong tương lai.<br />
- Nếu anti-CCP (-) tính nhưng RF (+) tính và các triệu chứng lâm sàng thể hiện bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có thể bị viêm khớp dạng thấp hoặc bị một số các viêm khác. <br />
- Nếu cả anti-CCP và RF đều (-) tính, ít có khả năng bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, việc chẩn đoán viêm khớp dạng thấp chủ yếu dựa vào lâm sàng, do đó viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán với các triệu chứng lâm sàng điển hình ngay cả khi các kháng thể tự miễn (-) tính.<br />
Một điều cần chú ý nữa là khi kết hợp giữa các xét nghiệm chẩn đoán viêm khớp dạng thấp như anti-CCA, RF, máu lắng và CRP trong chẩn đoán, ở những bệnh nhân đã được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, các xét nghiệm anti-CCP và RF (đã (+) tính) không cần làm lại nữa. Để theo dõi sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp và đánh giá hiệu quả điều trị, chỉ cần theo dõi máu lắng và CRP theo thời gian là đủ.]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>