<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Diễn đàn xét nghiệm đa khoa  - Lý thuyết ]]></title>
		<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/</link>
		<description><![CDATA[Diễn đàn xét nghiệm đa khoa  - https://xetnghiemdakhoa.com/diendan]]></description>
		<pubDate>Fri, 01 May 2026 16:42:42 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Phương pháp sắc ký lỏng ghép đầu dò khối phổ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-375.html</link>
			<pubDate>Fri, 06 Apr 2012 05:34:10 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-375.html</guid>
			<description><![CDATA[					    <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">LCMS là phương pháp được  dùng trong phân tích vết (ppb, ppm) các hợp chất cần nhận danh chính  xác. Trong những điều kiện vận hành nhất định ngoài thời gian lưu đặc  trưng, các chất còn được nhận danh bằng khối phổ của nó.</span>					    <br />
											   <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên lý chung </span><br />
<br />
Phương  pháp khối phổ (Mass Spectrometry-MS) là phương pháp nghiên cứu các chất  bằng cách đo, phân tích chính xác khối lượng phân tử của chất đó dựa  trên sự chuyển động của các ion nguyên tử hay ion phân tử trong một điện  trường hoặc từ trường nhất định. Tỉ số giữa khối lượng và điện tích  (m/z) có ảnh hưởng rất lớn đối với chuyển động này của ion. Nếu biết  được điện tích của ion thì ta dễ dàng xác định được khối lượng của ion  đó. <br />
<br />
Như vậy, trong nghiên cứu khối phổ của bất kỳ chất nào,  trước tiên nó phải được chuyển sang trạng thái bay hơi, sau đó được ion  hoá bằng các phương pháp thích hợp. Các ion tạo thành được đưa vào  nghiên cứu trong bộ phân tích khối của máy khối phổ. Tùy theo loại điện  tích của ion nghiên cứu mà người ta chọn kiểu quét ion dương (+) hoặc âm  (-). Kiểu quét ion dương thường cho nhiều thông tin hơn về ion nghiên  cứu nên được dùng phổ biến hơn.<br />
<br />
Tuy nhiên, sự phát triển của kỹ  thuật hiện nay cũng đã cho phép tích hợp hai kiểu quét này thành một  nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà nghiên cứu, tuy nhiên  thường độ nhạy không cao bằng từng kiểu quét riêng lẻ.<br />
<br />
Trong rất  nhiều năm, các nhà nghiên cứu kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối  phổ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc tìm cách  giải quyết được sự tương thích giữa hệ thống sắc ký lỏng và  đầu dò khối phổ. Nguyên nhân là do quá trình phân tích với đầu  dò MS đòi hỏi mức độ chân không cao, nhiệt độ cao, các chất  khảo sát phải ở trạng thái khí, vận tốc dòng chảy nhỏ; trong  khi hệ thống LC lại hoạt động ở áp suất cao với một lượng  dung môi tương đối lớn, nhiệt độ tương đối thấp, các chất phân  tích ở thể lỏng.<br />
 <br />
Để khắc phục những khó khăn trên, cần  phải có một kỹ thuật trung gian gọi là giao diện. Rất nhiều  kỹ thuật giao diện (interface technology) như chùm tia hạt (FB),  bắn phá nguyên tử nhanh dòng liên tục (CF-FAB),… đã được nghiên  cứu và ứng dụng, nhưng mãi cho đến cuối thập nhiên 80, mới có  sự đột phá thật sự với kỹ thuật ion hóa tại áp suất khí  quyển (Atmospheric Pressure Ionization – API).<br />
<br />
Ưu điểm nổi bật  của API là khả năng hình thành ion tại áp suất khí quyển ngay trong  buồng ion hóa. Điều này khác biệt với các kiểu ion hóa sử dụng trước đó  cho LC/MS như bắn phá nguyên tử nhanh với dòng liên tục (continuous  flow- fast atom bombardment CF-FAB) hay như tia nhiệt (thermospray – TS)  đều đòi hỏi áp suất thấp. Một thuận lợi nữa của API là sự ion hóa mềm  (soft ionization), không phá vỡ cấu trúc của hợp chất cần phân tích nhờ  đó thu được khối phổ của ion phân tử. Ngoài ra, với kỹ thuật này, người  ta có thể điều khiển được quá trình phá vỡ ion phân tử để tạo ra những  ion con tùy theo yêu cầu phân tích.<br />
<br />
Có ba kiểu hình thành ion ứng dụng cho nguồn API trong LC/MS:</div><ul class="mycode_list"><li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa tia điện (electrospray ionization – ESI).</div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa hóa học tại áp suất khí quyển (atmospheric pressure chemical ionization – APCI).</div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa bằng photon tại áp suất khí quyển (Atmospheric Pressure Photoionization – APPI).</div></li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong đó, hai kỹ thuật APCI và ESI, đặc biệt là ESI được sử dụng nhiều hơn cả.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Các loại đầu dò khối phổ </span><br />
<br />
Hiện nay, có bốn kiểu đầu dò khối phổ chính đang được sử dụng bao gồm:</div><ul class="mycode_list"><li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ bẫy ion (Ion Trap, IT) </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ cộng hưởng cyclotron sử dụng  phép biến đổi Fourier (Fourier Transform Ion Cyclotron Resonance Mass  Spectrometry, FTICR hay FT-MS). </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ thời gian bay (Time-of-Flight, TOF) </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ tứ cực (Quadrupole) </div></li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Chúng rất khác nhau về thiết kế và thao tác, với những ưu và nhược điểm riêng.<br />
<br />
Đối  với loại bẫy ion, các ion trước hết được bắt hoặc “mắc bẫy” trong một  khoảng thời gian nhất định rồi được phân tích bằng MS hoặc MS/MS. Loại  máy này được sử dụng khá rộng rãi (xét theo những công bố khoa học). Tuy  nhiên, chúng có độ chính xác không cao do chỉ có một số lượng khá hạn  chế các ion có thể tích lũy vào tâm điểm trước khi được tích điện trong  không gian, do vậy có thể phản ánh sai lệch sự phân bố và phép đo. Người  ta cũng đã tiến hành cải tiến kỹ thuật trên bằng sự phát triển các bẫy  ion “tuyến tính” hoặc “hai chiều” khi những ion được tập hợp trong một  thể tích hình ống lớn hơn bẫy ion ba chiều truyền thống, cho phép làm  tăng độ nhạy, độ phân giải và độ chính xác. <br />
<br />
FT-MS bản chất  cũng là một loại khối phổ bẫy ion, cho phép bắt những ion dưới độ chân  không sâu trong một từ trường cao. Do được cải tiến và kết hợp cả hai  loại máy nên FT-MS có độ nhạy, độ chính xác và phân giải cao. Tuy nhiên,  do vận hành phức tạp và giá thành quá cao nên chúng ít được sử dụng  trong phân tích dư lượng. <br />
<br />
Đối với đầu dò khối phổ thời  gian bay, tất cả các ion đơn điện tích nào chịu một sai biệt  về thế năng V sẽ đạt một năng lượng chuyển hóa eV (electron  volt) như nhau. Vì vậy, những ion có khối lượng lớn hơn sẽ có  vận tốc nhỏ hơn nên mất nhiều thời gian hơn để bay qua cùng một  quãng đường dài trong một ống không có từ trường (field-free  flight tube). Các ion, sau khi được tăng tốc, bay ngang qua vùng  không trường, nơi đây chúng sẽ được tách riêng nhau ra tùy theo  giá trị m/z của chúng, và được tập trung tại bộ phận thu nhận  tín hiệu. Do thời gian đến đích của các ion chỉ cách nhau rất  ngắn, 10-7 giây, nên máy cần có hệ thống điện tử cực nhạy để  có thể phân biệt được các ion. <br />
<br />
Đầu dò tứ cực (một  hoặc ba tứ cực) có độ nhạy cao trong phân tích định lượng một  chất đã biết, tạo được nhiều phân mảnh trong chế độ MS/MS, có  thể làm được kiểu đo mất phân tử trung hòa (neutral loss), thích  hợp cho phân tích vi lượng các chất đã biết trước cấu trúc.  Tuy nhiên, đầu dò tứ cực khó giải thích cơ chế phân mảnh MS/MS.<br />
<br />
Tùy  theo mục đích, các nhà nghiên cứu sẽ chọn các kỹ thuật ứng với các máy  khối phổ thích hợp. Ngoài ra, để phát huy những ưu điểm cũng như  khắc phục các hạn chế của từng loại đầu dò, người ta còn  ghép nối kết hợp các kỹ thuật với nhau, ví dụ như hệ thống  kết hợp giữa bẫy ion và tứ cực API QTRAP4000 hay QTRAP5500 của  hãng Appliedbiosystems, trong đó, tứ cực thứ ba của hệ ba tứ  cực được thay bằng bẫy ion. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Nguồn ion hóa trong đầu dò khôi phổ</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.1.  Ion hóa tia điện (ESI)</span><br />
<br />
ESI  là một kỹ thuật ion hóa được ứng dụng cho những hợp chất không bền  nhiệt, phân cực, có khối lượng phân tử lớn. ESI có khả năng tạo thành  những ion đa điện tích (dương hoặc âm, tùy thuộc vào áp cực điện  thế), được xem là kỹ thuật ion hóa êm dịu hơn APCI, thích hợp cho  phân tích các hợp chất sinh học như protein, peptide, nucleotide… hoặc  các polyme công nghiệp như polyethylen glycol.<br />
<br />
Trong ESI, các ion được hình thành như sau:</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/119/Create_ion.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Create_ion.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><span style="color: #0070c0;" class="mycode_color">Sơ đồ tạo ion dương bằng nguồn ESI</span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Được bắt nguồn từ hệ thống sắc ký lỏng, tại  đầu ống dẫn mao quản, dưới ảnh hưởng của điện thế cao và sự  hỗ trợ của khí mang, mẫu được phun thành những hạt sương nhỏ mang tích  điện tại bề mặt. Khí ở xung quanh các giọt này tạo nhiệt năng  làm bay hơi dung môi ra khỏi giọt sương, khi đó, mật độ điện tích  tại bề mặt hạt sương gia tăng. Mật độ điện tích này tăng đến một điểm  giới hạn (giới hạn ổn định Rayleigh) để từ đó hạt sương phân chia thành  những hạt nhỏ hơn vì lực đẩy lúc này lớn hơn sức căng bề mặt. Quá trình  này được lặp lại nhiều lần để hình thành những hạt rất nhỏ. Từ những hạt  rất nhỏ mang điện tích cao này, các ion phân tích được chuyển thành  thể khí bởi lực đẩy tĩnh điện rồi sau đó đi vào bộ phân tích khối.<br />
<br />
Trong  kỹ thuật ESI, phân tử nhất thiết phải được biến thành chất  điện ly, tan trong dung dịch dùng để phun sương. Điều này phụ  thuộc vào: dung môi sử dụng, pKa của chất điện ly và pH của  dung dịch. Các dung môi phù hợp để phun sương là: methanol,  acetonitrile, ethanol,…<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.2.  Ion hóa hóa học ở áp suất khí quyển (APCI)</span><br />
<br />
APCI  là kỹ thuật ion hóa thường được sử dụng để phân tích những hợp chất  có độ phân cực trung bình, có phân tử lượng nhỏ, dễ bay hơi.<br />
<br />
Trong  APCI, ion đươc hình thành như sau: mẫu hợp chất cần phân tích,  hòa tan trong pha động, sau khi ra khỏi cột sắc ký, được cho đi  ngang qua ống mao quản đốt nóng. Khi ra khỏi ống, nhờ khí N¬2,  dung dịch được phun thành dạng sương từ đầu ra của nguồn APCI. Các  giọt sương nhỏ được một dòng khí dẫn đến một ống thạch anh  đun nóng, gọi là buồng dung môi hóa khí. Hợp chất đi theo luồng  khí nóng ra khỏi ống để đến một vùng có áp suất khí quyển,  nơi đây sẽ xảy ra sự ion hóa hóa học nhờ vào que phóng điện  corona, tại đây có sự trao đổi proton để biến thành ion dương (M +  H)+ và trao đổi electron hoặc proton để biến thành ion âm (M –  H)-. Sau đó, các ion sẽ được đưa vào bộ phân tích khối.<br />
   </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/119/Type_Create_ion.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Type_Create_ion.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><span style="color: #0070c0;" class="mycode_color">Lựa chọn kiểu tạo ion</span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.3.  Ion hóa bằng photon tại áp suất khí quyển (APPI)</span><br />
<br />
Thông  thường, hợp chất phân tích thường ion hóa bằng nguồn ESI hoặc  APCI, tuy nhiên, có một số chất không được ion hóa tốt bằng hai  kỹ thuật này, ví dụ như polyaromatic hydrocarbons (PAHs), người ta  sẽ sử dụng nguồn APPI. Kết hợp ưu điểm của giữa dòng khí  phun thẳng góc với dòng ion, đèn krypton trong nguồn sẽ phát ra  các photon có năng lượng cao đủ để ion hóa nhiều hợp chất hóa  học khác nhau. <br />
<br />
Ngoài ba nguồn ion hóa trên, còn có nguồn  ion hóa đa phương thức (MMI, Multimode ionization) có thể vận  hành, thao tác ở hai chế độ ion hóa ESI và APCI.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Một số kỹ thuật ghi phổ trong đầu dò khối phổ</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.1.  Scan</span><br />
<br />
Khi  thao tác với chế độ scan, đầu dò sẽ nhận được tất cả các mảnh ion để  cho khối phổ toàn ion đối với tất cả các chất trong suốt quá trình phân  tích. Thường dùng để nhận danh hay phân tích khi chất phân tích có nồng  độ đủ lớn. Đối với đầu dò khối phổ ba tứ cực, chế độ SCAN  thường được lựa chọn để khảo sát ion mẹ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.2.  Selected Ion Monitoring (SIM)</span><br />
<br />
Trong  chế độ SIM, đầu dò MS chỉ ghi nhận tín hiệu một số mảnh ion đặc trưng  cho chất cần xác định. Khối phổ SIM chỉ cho tín hiệu của các ion đã được  lựa chọn trước đó, do vậy không thể dùng để nhận danh hay so sánh với  các thư viện có sẵn. Đối với đầu dò khối phổ ba tứ cực, chế độ  SIM thường được lựa chọn để khảo sát năng lượng phân mảnh khi  đã biết ion mẹ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.3.  SRM (Selected Reaction Monitoring) và MRM (Multiple Reaction Monitoring)</span><br />
<br />
Đối  với khối phổ ba tứ cực, là máy đo khối phổ hai lần liên tiếp  (MS-MS), 2 kỹ thuật ghi phổ có độ nhạy cao thường được sử  dụng là SRM và MRM.<br />
<br />
SRM: cô lập ion cần chọn, sau đó phân mảnh  ion cô lập đó, trong các mảnh ion sinh ra, cô lập 1 mảnh ion con cần  quan tâm và đưa vào đầu dò để phát hiện.<br />
<br />
MRM: trên thực tế, do  yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với phân tích vi lượng nên các ion  con cần quan tâm thường từ 2 trở lên, do vậy kỹ thuật ghi phổ  MRM thông dụng hơn SRM. Đầu tiên, cô lập ion cần chọn (ion mẹ) ở  tứ cực thứ nhất, phân mảnh ion cô lập đó tại tứ cực thứ 2  (thực chất là buồng va chạm) thu được các ion con, cô lập 2  (hoặc nhiều) ion con cần quan tâm ở tứ cực thứ 3 và đưa vào đầu  dò để phát hiện. </div>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[					    <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">LCMS là phương pháp được  dùng trong phân tích vết (ppb, ppm) các hợp chất cần nhận danh chính  xác. Trong những điều kiện vận hành nhất định ngoài thời gian lưu đặc  trưng, các chất còn được nhận danh bằng khối phổ của nó.</span>					    <br />
											   <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên lý chung </span><br />
<br />
Phương  pháp khối phổ (Mass Spectrometry-MS) là phương pháp nghiên cứu các chất  bằng cách đo, phân tích chính xác khối lượng phân tử của chất đó dựa  trên sự chuyển động của các ion nguyên tử hay ion phân tử trong một điện  trường hoặc từ trường nhất định. Tỉ số giữa khối lượng và điện tích  (m/z) có ảnh hưởng rất lớn đối với chuyển động này của ion. Nếu biết  được điện tích của ion thì ta dễ dàng xác định được khối lượng của ion  đó. <br />
<br />
Như vậy, trong nghiên cứu khối phổ của bất kỳ chất nào,  trước tiên nó phải được chuyển sang trạng thái bay hơi, sau đó được ion  hoá bằng các phương pháp thích hợp. Các ion tạo thành được đưa vào  nghiên cứu trong bộ phân tích khối của máy khối phổ. Tùy theo loại điện  tích của ion nghiên cứu mà người ta chọn kiểu quét ion dương (+) hoặc âm  (-). Kiểu quét ion dương thường cho nhiều thông tin hơn về ion nghiên  cứu nên được dùng phổ biến hơn.<br />
<br />
Tuy nhiên, sự phát triển của kỹ  thuật hiện nay cũng đã cho phép tích hợp hai kiểu quét này thành một  nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà nghiên cứu, tuy nhiên  thường độ nhạy không cao bằng từng kiểu quét riêng lẻ.<br />
<br />
Trong rất  nhiều năm, các nhà nghiên cứu kỹ thuật sắc ký lỏng ghép khối  phổ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc tìm cách  giải quyết được sự tương thích giữa hệ thống sắc ký lỏng và  đầu dò khối phổ. Nguyên nhân là do quá trình phân tích với đầu  dò MS đòi hỏi mức độ chân không cao, nhiệt độ cao, các chất  khảo sát phải ở trạng thái khí, vận tốc dòng chảy nhỏ; trong  khi hệ thống LC lại hoạt động ở áp suất cao với một lượng  dung môi tương đối lớn, nhiệt độ tương đối thấp, các chất phân  tích ở thể lỏng.<br />
 <br />
Để khắc phục những khó khăn trên, cần  phải có một kỹ thuật trung gian gọi là giao diện. Rất nhiều  kỹ thuật giao diện (interface technology) như chùm tia hạt (FB),  bắn phá nguyên tử nhanh dòng liên tục (CF-FAB),… đã được nghiên  cứu và ứng dụng, nhưng mãi cho đến cuối thập nhiên 80, mới có  sự đột phá thật sự với kỹ thuật ion hóa tại áp suất khí  quyển (Atmospheric Pressure Ionization – API).<br />
<br />
Ưu điểm nổi bật  của API là khả năng hình thành ion tại áp suất khí quyển ngay trong  buồng ion hóa. Điều này khác biệt với các kiểu ion hóa sử dụng trước đó  cho LC/MS như bắn phá nguyên tử nhanh với dòng liên tục (continuous  flow- fast atom bombardment CF-FAB) hay như tia nhiệt (thermospray – TS)  đều đòi hỏi áp suất thấp. Một thuận lợi nữa của API là sự ion hóa mềm  (soft ionization), không phá vỡ cấu trúc của hợp chất cần phân tích nhờ  đó thu được khối phổ của ion phân tử. Ngoài ra, với kỹ thuật này, người  ta có thể điều khiển được quá trình phá vỡ ion phân tử để tạo ra những  ion con tùy theo yêu cầu phân tích.<br />
<br />
Có ba kiểu hình thành ion ứng dụng cho nguồn API trong LC/MS:</div><ul class="mycode_list"><li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa tia điện (electrospray ionization – ESI).</div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa hóa học tại áp suất khí quyển (atmospheric pressure chemical ionization – APCI).</div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Ion hóa bằng photon tại áp suất khí quyển (Atmospheric Pressure Photoionization – APPI).</div></li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong đó, hai kỹ thuật APCI và ESI, đặc biệt là ESI được sử dụng nhiều hơn cả.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Các loại đầu dò khối phổ </span><br />
<br />
Hiện nay, có bốn kiểu đầu dò khối phổ chính đang được sử dụng bao gồm:</div><ul class="mycode_list"><li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ bẫy ion (Ion Trap, IT) </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ cộng hưởng cyclotron sử dụng  phép biến đổi Fourier (Fourier Transform Ion Cyclotron Resonance Mass  Spectrometry, FTICR hay FT-MS). </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ thời gian bay (Time-of-Flight, TOF) </div>
</li>
<li><div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Đầu dò khối phổ tứ cực (Quadrupole) </div></li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Chúng rất khác nhau về thiết kế và thao tác, với những ưu và nhược điểm riêng.<br />
<br />
Đối  với loại bẫy ion, các ion trước hết được bắt hoặc “mắc bẫy” trong một  khoảng thời gian nhất định rồi được phân tích bằng MS hoặc MS/MS. Loại  máy này được sử dụng khá rộng rãi (xét theo những công bố khoa học). Tuy  nhiên, chúng có độ chính xác không cao do chỉ có một số lượng khá hạn  chế các ion có thể tích lũy vào tâm điểm trước khi được tích điện trong  không gian, do vậy có thể phản ánh sai lệch sự phân bố và phép đo. Người  ta cũng đã tiến hành cải tiến kỹ thuật trên bằng sự phát triển các bẫy  ion “tuyến tính” hoặc “hai chiều” khi những ion được tập hợp trong một  thể tích hình ống lớn hơn bẫy ion ba chiều truyền thống, cho phép làm  tăng độ nhạy, độ phân giải và độ chính xác. <br />
<br />
FT-MS bản chất  cũng là một loại khối phổ bẫy ion, cho phép bắt những ion dưới độ chân  không sâu trong một từ trường cao. Do được cải tiến và kết hợp cả hai  loại máy nên FT-MS có độ nhạy, độ chính xác và phân giải cao. Tuy nhiên,  do vận hành phức tạp và giá thành quá cao nên chúng ít được sử dụng  trong phân tích dư lượng. <br />
<br />
Đối với đầu dò khối phổ thời  gian bay, tất cả các ion đơn điện tích nào chịu một sai biệt  về thế năng V sẽ đạt một năng lượng chuyển hóa eV (electron  volt) như nhau. Vì vậy, những ion có khối lượng lớn hơn sẽ có  vận tốc nhỏ hơn nên mất nhiều thời gian hơn để bay qua cùng một  quãng đường dài trong một ống không có từ trường (field-free  flight tube). Các ion, sau khi được tăng tốc, bay ngang qua vùng  không trường, nơi đây chúng sẽ được tách riêng nhau ra tùy theo  giá trị m/z của chúng, và được tập trung tại bộ phận thu nhận  tín hiệu. Do thời gian đến đích của các ion chỉ cách nhau rất  ngắn, 10-7 giây, nên máy cần có hệ thống điện tử cực nhạy để  có thể phân biệt được các ion. <br />
<br />
Đầu dò tứ cực (một  hoặc ba tứ cực) có độ nhạy cao trong phân tích định lượng một  chất đã biết, tạo được nhiều phân mảnh trong chế độ MS/MS, có  thể làm được kiểu đo mất phân tử trung hòa (neutral loss), thích  hợp cho phân tích vi lượng các chất đã biết trước cấu trúc.  Tuy nhiên, đầu dò tứ cực khó giải thích cơ chế phân mảnh MS/MS.<br />
<br />
Tùy  theo mục đích, các nhà nghiên cứu sẽ chọn các kỹ thuật ứng với các máy  khối phổ thích hợp. Ngoài ra, để phát huy những ưu điểm cũng như  khắc phục các hạn chế của từng loại đầu dò, người ta còn  ghép nối kết hợp các kỹ thuật với nhau, ví dụ như hệ thống  kết hợp giữa bẫy ion và tứ cực API QTRAP4000 hay QTRAP5500 của  hãng Appliedbiosystems, trong đó, tứ cực thứ ba của hệ ba tứ  cực được thay bằng bẫy ion. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Nguồn ion hóa trong đầu dò khôi phổ</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.1.  Ion hóa tia điện (ESI)</span><br />
<br />
ESI  là một kỹ thuật ion hóa được ứng dụng cho những hợp chất không bền  nhiệt, phân cực, có khối lượng phân tử lớn. ESI có khả năng tạo thành  những ion đa điện tích (dương hoặc âm, tùy thuộc vào áp cực điện  thế), được xem là kỹ thuật ion hóa êm dịu hơn APCI, thích hợp cho  phân tích các hợp chất sinh học như protein, peptide, nucleotide… hoặc  các polyme công nghiệp như polyethylen glycol.<br />
<br />
Trong ESI, các ion được hình thành như sau:</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/119/Create_ion.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Create_ion.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><span style="color: #0070c0;" class="mycode_color">Sơ đồ tạo ion dương bằng nguồn ESI</span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Được bắt nguồn từ hệ thống sắc ký lỏng, tại  đầu ống dẫn mao quản, dưới ảnh hưởng của điện thế cao và sự  hỗ trợ của khí mang, mẫu được phun thành những hạt sương nhỏ mang tích  điện tại bề mặt. Khí ở xung quanh các giọt này tạo nhiệt năng  làm bay hơi dung môi ra khỏi giọt sương, khi đó, mật độ điện tích  tại bề mặt hạt sương gia tăng. Mật độ điện tích này tăng đến một điểm  giới hạn (giới hạn ổn định Rayleigh) để từ đó hạt sương phân chia thành  những hạt nhỏ hơn vì lực đẩy lúc này lớn hơn sức căng bề mặt. Quá trình  này được lặp lại nhiều lần để hình thành những hạt rất nhỏ. Từ những hạt  rất nhỏ mang điện tích cao này, các ion phân tích được chuyển thành  thể khí bởi lực đẩy tĩnh điện rồi sau đó đi vào bộ phân tích khối.<br />
<br />
Trong  kỹ thuật ESI, phân tử nhất thiết phải được biến thành chất  điện ly, tan trong dung dịch dùng để phun sương. Điều này phụ  thuộc vào: dung môi sử dụng, pKa của chất điện ly và pH của  dung dịch. Các dung môi phù hợp để phun sương là: methanol,  acetonitrile, ethanol,…<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.2.  Ion hóa hóa học ở áp suất khí quyển (APCI)</span><br />
<br />
APCI  là kỹ thuật ion hóa thường được sử dụng để phân tích những hợp chất  có độ phân cực trung bình, có phân tử lượng nhỏ, dễ bay hơi.<br />
<br />
Trong  APCI, ion đươc hình thành như sau: mẫu hợp chất cần phân tích,  hòa tan trong pha động, sau khi ra khỏi cột sắc ký, được cho đi  ngang qua ống mao quản đốt nóng. Khi ra khỏi ống, nhờ khí N¬2,  dung dịch được phun thành dạng sương từ đầu ra của nguồn APCI. Các  giọt sương nhỏ được một dòng khí dẫn đến một ống thạch anh  đun nóng, gọi là buồng dung môi hóa khí. Hợp chất đi theo luồng  khí nóng ra khỏi ống để đến một vùng có áp suất khí quyển,  nơi đây sẽ xảy ra sự ion hóa hóa học nhờ vào que phóng điện  corona, tại đây có sự trao đổi proton để biến thành ion dương (M +  H)+ và trao đổi electron hoặc proton để biến thành ion âm (M –  H)-. Sau đó, các ion sẽ được đưa vào bộ phân tích khối.<br />
   </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/119/Type_Create_ion.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Type_Create_ion.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><span style="color: #0070c0;" class="mycode_color">Lựa chọn kiểu tạo ion</span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4.3.  Ion hóa bằng photon tại áp suất khí quyển (APPI)</span><br />
<br />
Thông  thường, hợp chất phân tích thường ion hóa bằng nguồn ESI hoặc  APCI, tuy nhiên, có một số chất không được ion hóa tốt bằng hai  kỹ thuật này, ví dụ như polyaromatic hydrocarbons (PAHs), người ta  sẽ sử dụng nguồn APPI. Kết hợp ưu điểm của giữa dòng khí  phun thẳng góc với dòng ion, đèn krypton trong nguồn sẽ phát ra  các photon có năng lượng cao đủ để ion hóa nhiều hợp chất hóa  học khác nhau. <br />
<br />
Ngoài ba nguồn ion hóa trên, còn có nguồn  ion hóa đa phương thức (MMI, Multimode ionization) có thể vận  hành, thao tác ở hai chế độ ion hóa ESI và APCI.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Một số kỹ thuật ghi phổ trong đầu dò khối phổ</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.1.  Scan</span><br />
<br />
Khi  thao tác với chế độ scan, đầu dò sẽ nhận được tất cả các mảnh ion để  cho khối phổ toàn ion đối với tất cả các chất trong suốt quá trình phân  tích. Thường dùng để nhận danh hay phân tích khi chất phân tích có nồng  độ đủ lớn. Đối với đầu dò khối phổ ba tứ cực, chế độ SCAN  thường được lựa chọn để khảo sát ion mẹ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.2.  Selected Ion Monitoring (SIM)</span><br />
<br />
Trong  chế độ SIM, đầu dò MS chỉ ghi nhận tín hiệu một số mảnh ion đặc trưng  cho chất cần xác định. Khối phổ SIM chỉ cho tín hiệu của các ion đã được  lựa chọn trước đó, do vậy không thể dùng để nhận danh hay so sánh với  các thư viện có sẵn. Đối với đầu dò khối phổ ba tứ cực, chế độ  SIM thường được lựa chọn để khảo sát năng lượng phân mảnh khi  đã biết ion mẹ.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.3.  SRM (Selected Reaction Monitoring) và MRM (Multiple Reaction Monitoring)</span><br />
<br />
Đối  với khối phổ ba tứ cực, là máy đo khối phổ hai lần liên tiếp  (MS-MS), 2 kỹ thuật ghi phổ có độ nhạy cao thường được sử  dụng là SRM và MRM.<br />
<br />
SRM: cô lập ion cần chọn, sau đó phân mảnh  ion cô lập đó, trong các mảnh ion sinh ra, cô lập 1 mảnh ion con cần  quan tâm và đưa vào đầu dò để phát hiện.<br />
<br />
MRM: trên thực tế, do  yêu cầu về mặt kỹ thuật đối với phân tích vi lượng nên các ion  con cần quan tâm thường từ 2 trở lên, do vậy kỹ thuật ghi phổ  MRM thông dụng hơn SRM. Đầu tiên, cô lập ion cần chọn (ion mẹ) ở  tứ cực thứ nhất, phân mảnh ion cô lập đó tại tứ cực thứ 2  (thực chất là buồng va chạm) thu được các ion con, cô lập 2  (hoặc nhiều) ion con cần quan tâm ở tứ cực thứ 3 và đưa vào đầu  dò để phát hiện. </div>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-374.html</link>
			<pubDate>Fri, 06 Apr 2012 05:31:41 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-374.html</guid>
			<description><![CDATA[					    <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">HPLC là chữ viết tắt 4 chữ  cái đầu bằng tiếng Anh của phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (High  Performance Liquid Chromatography), trước đây gọi là phương pháp sắc ký  lỏng cao áp (High Pressure Liquid Chromatography).</span>					    <br />
											   <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Khái niệm</span><br />
<br />
Phương  pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) ra đời năm 1967-1968 trên cơ sở  phát triển và cải tiến từ phương pháp sắc ký cột cổ điển. HPLC là một  phương pháp chia tách trong đó pha động là chất lỏng và pha tĩnh chứa  trong cột là chất rắn đã được phân chia dưới dạng tiểu phân hoặc một  chất lỏng phủ lên một chất mang rắn, hay một chất mang đã được biến bằng  liên kết hóa học với các nhóm chức hữu cơ. Phương pháp này ngày càng  được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nhiều lý do: có độ nhạy cao, khả  năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khó bay hơi hoặc dễ  phân hủy nhiệt.<br />
<br />
Phạm vi ứng dụng của phương pháp HPLC rất rộng,  như phân tích các hợp chất thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, các chất  phụ gia thực phẩm trong lĩnh vực thực phẩm, dược phẩm, môi trường…<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Phân loại</span><br />
<br />
Dựa vào sự khác nhau về cơ chế tách chiết sử dụng trong HPLC, người ta chia HPLC thành 4 loại:</div><ul class="mycode_list"><li>Sắc ký hấp phụ hay sắc ký lỏng rắn (adsorption/liquid chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký phân bố (partition chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký ion (ion chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký rây phân tử (size exclusion/gel permeation chromatography).</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong đó, sắc ký phân bố (SKPB) được ứng dụng nhiều  nhất vì có thể phân tích được những hợp chất từ không phân cực đến những  hợp chất rất phân cực, hợp chất ion có khối lượng phân tử không quá lớn  (&lt;3000).<br />
<br />
SKPB được chia thành hai loại dựa trên độ phân cực  tương đối giữa pha tĩnh và pha động: sắc ký pha thường – SKPT (normal  phase chromatography) và sắc ký pha đảo – SKPĐ (reversed phase  chromatography).<br />
<br />
Trong SKPT, pha tĩnh sử dụng có độ phân cực cao  hơn pha động. Pha tĩnh loại này sẽ có ái lực với các hợp chất phân cực.  SKPT dùng để tách và phân tích các hợp chất có độ phân cực cao với phân  tử lượng không lớn lắm.<br />
<br />
SKPĐ là thuật ngữ để chỉ một loại sắc ký  trong đó pha tĩnh ít phân cực hơn pha động. Phương pháp này dùng phân  tích các hợp chất từ không phân cực đến phân cực. Hầu hết các hợp chất  hữu cơ có mạch carbon dài (ít phân cực) rất thích hợp cho phân tích bằng  SKPĐ. Dung môi sử dụng trong SKPĐ là các dung môi phân cực, trong đó  dung môi nước đóng vai trò quan trọng mà lại rẻ tiền. Do đó, SKPĐ được  ứng dụng nhiều và phổ biến hơn SKPT.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Pha tĩnh trong sắc ký pha đảo </span><br />
<br />
Trong  sắc ký phân bố nói chung, pha tĩnh là những hợp chất hữu cơ được gắn  lên chất mang rắn silica hoặc cấu thành từ silica theo hai kiểu:</div><ul class="mycode_list"><li>Pha tĩnh được giữ lại trên chất mang rắn bằng cơ chế hấp phụ vật lý → sắc ký lỏng-lỏng (liquid-liquid chromatography).  <br />
</li>
<li>Pha tĩnh liên kết hóa học với chất nền → sắc ký pha liên kết (bonded phase chromatography)<br />
Trong  quá trình sử dụng, người ta nhận thấy sắc ký pha liên kết có nhiều ưu  điểm hơn sắc ký pha lỏng-lỏng vì một số nguyên nhân sau: </li>
</ul>
<ul class="mycode_list"><li><ul class="mycode_list"><li>Pha tĩnh trong hệ sắc ký lỏng-lỏng dễ bị hòa tan bởi pha động nên dễ  bị mất mát pha tĩnh trong thời gian sử dụng và gây nhiễm đối với hợp  chất phân tích.  <br />
</li>
<li>Do pha tĩnh của sắc ký lỏng-lỏng dễ tan trong pha động nên người ta không thể ứng dụng phương pháp rửa giải gradient dung môi.</li>
</ul>
</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Vì vậy, người ta thường chỉ quan tâm đến loại sắc ký  phân bố pha liên kết và phần lớn các loại cột sử dụng hiện nay trong sắc  ký phân bố đều có cấu trúc dạng này.<br />
<br />
Bề mặt các hạt silica –  SiO2 (các hạt này có đường kính 3, 5 hoặc 10 µm) được xử lý (thủy phân)  bằng cách đun nóng với HCl 0,1M trong một hoặc hai ngày để tạo ra những  nhóm SiOH như sau (thông thường chỉ có khoảng 8 µmol SiOH/m2 bề mặt):</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 1. Bề mặt silica đã thủy phân</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Sau đó bề mặt silica đã thủy phân này sẽ được cho  phản ứng với các organochlorosilan để tạo ra các pha tĩnh không phân  cực, phân cực trung bình hoặc rất phân cực tùy theo nhóm R gắn vào.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_2.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_2.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 2: Tạo nhánh trên bề mặt silica </div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Thường chỉ khoảng 50% nhóm –OH mất H+ để tạo ra HCl  (tức &lt; 4µmol/m2 bề mặt bị silan hóa) vì sự kết hợp sẽ dần dần bị ảnh  hưởng bởi hiệu ứng lập thể. Ngoài nhóm Cl người ta còn sử dụng –OCH3.<br />
Hợp  chất cần phân tích khi đi qua pha tĩnh sẽ bị giữ lại bởi những lực  lượng tương tác khác nhau tùy thuộc tính chất, đặc điểm của chất tan và  pha tĩnh.<br />
<br />
Trong SKPĐ, nhóm thế R trong hợp chất siloxan hầu như   không phân cực hoặc ít phân  cực. Đó là các ankyl dây dài như C8  (n-octyl), C18 (n-octadecyl) còn gọi là ODS (octadecylsilan) hoặc các  nhóm alkyl ngắn hơn như C2; ngoài ra còn có cyclohexyl, phenyl trong đó  nhóm phenyl có độ phân cực cao hơn nhóm alkyl. Người ta nhận thấy các  alkyl dây dài cho kết quả tách ổn định hơn các loại khác nên đây là loại  được sử dụng nhiều nhất.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_3.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_3.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 3: Cấu trúc của cột ODS </div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Tuy nhiên do hiệu ứng lập thể nên trong cấu trúc của  pha tĩnh còn nhóm –OH chưa phản ứng, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình  tách sắc ký tùy môi trường pH phân tích.<br />
<br />
Trong môi trường quá  acid (pH &lt; 2) thì có sự phân ly các nhóm ether (-O-Si-C18) ra khỏi  nền. Lúc này cột sẽ mất hoạt tính dẫn đến chất cần phân tích không còn  tương tác tốt với pha tĩnh nữa.<br />
<br />
Trong môi trường baz (pH &gt; 7),  chính nền silic mang pha tĩnh có thể  bị hòa tan (SiO2 thành silicat),  hệ quả là N giảm và  số nhánh ghép cũng giảm, mũi  rộng ra và thời gian  lưu cũng có thể giảm. Kết quả phân tích như vậy sẽ mất đi độ chính xác.<br />
<br />
Một  trong những cách khắc phục hiện tượng này là dùng các chất như  trimethylchlorosilan ClSi(CH3)3 hoặc hexamethyldisilazan (ít sử dụng  hơn) để tương tác với nhóm –OH này (gọi là hiện tượng end-capping). Lúc  này ta sẽ có loại cột ít tương tác với chất phân tích có tính baz (cột  LC-DB của hãng SUPELCO).</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_4.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_4.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 4. Cấu trúc cột LC-DB</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Có một cách khác để loại trừ bớt ảnh hưởng của nhóm  –OH mà không cần tương tác với nó là thay những nhóm methyl của  –Si(CH3)2-C18 bằng những nhóm thế lớn hơn như isopropyl để những nhóm  này sẽ che đi những nhóm –OH, cản trở tương tác của nhóm –OH với chất  cần phân tích.<br />
<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_5.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_5.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 5: Cấu trúc cột có gốc isopropyl</div>
Người  ta còn ghép lên dây C18 một số nhóm phân cực để tăng thêm độ phân cực  của dây C18, làm cột có khả năng tách chọn lọc hơn đối với những hợp  chất phân cực mạnh (cột EPS – Expended Polar Selectivity).<br />
<br />
Ngoài  sườn silica, thời gian gần đây người ta có sử dụng đến nền nhựa  polystyren (Polystyren Reversed Phase – PRP) cho phép phân tích trong  môi trường pH từ 1 – 13. Cột này dễ sử dụng trong môi trường acid và baz  mạnh. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Pha động trong sắc ký pha đảo </span><br />
<br />
Pha động trong sắc ký lỏng nói chung phải đạt những yêu cầu sau: <ul class="mycode_list"><li>Hòa tan mẫu phân tích.  <br />
</li>
<li>Phù hợp với đầu dò.  <br />
</li>
<li>Không hòa tan hay làm mòn pha tĩnh.  <br />
</li>
<li>Có độ nhớt thấp để tránh áp suất dội lại cao.  <br />
</li>
<li>Tinh khiết dùng cho sắc ký (HPLC grade).</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong sắc ký pha đảo, dung môi pha động có độ phân  cực cao. Trên lý thuyết chúng ta có thể sử dụng khá nhiều dung môi  nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy methanol (MeOH), acetonitrile (ACN)  và tetrahydrofuran (THF) là đạt yêu cầu nhất. Nước là một dung môi được  cho vào các dung môi hữu cơ để giảm khả năng rửa giải.<br />
<br />
Mỗi dung  môi đều đặc trưng bởi các hằng số vật lý như chỉ số khúc xạ (refractive  index), độ nhớt (viscocity), nhiệt độ sôi (boiling point), độ phân cực  (polarity index), độ rửa giải (eluent strength)…<br />
 <br />
Trong đó độ phân cực và độ rửa giải có tác động lớn lên khả năng phân tách của các mũi sắc ký.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Bang_1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Bang_1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Bảng 1: Tính chất của một số pha động trong sắc ký lỏng</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Có ba thông số gây ảnh hưởng lớn đến tách các mũi sắc  ký: số đĩa lý thuyết N, hệ số dung lượng K’, độ chọn lọc α . Khi sự  thay đổi thành phần pha động không đem lại kết quả tách mũi theo yêu cầu  thì chúng ta phải thay đổi bản chất pha động (sử dụng dung môi khác),  tức thay đổi α. Đôi khi có thể phải thay đổi cả pha tĩnh.<br />
<br />
Trong  quá trình tách của SKPĐ, sự tương tác giữa hợp chất cần phân tích và pha  động phụ thuộc rất nhiều vào moment lưỡng cực, tính acid (cho proton)  hoặc tính baz (nhận proton) của dung môi.<br />
<br />
Thông thường pha động  trong SKPĐ bao gồm một hỗn hợp nước hoặc dung dịch đệm với một hoặc  nhiều dung môi hữu cơ phân cực tan được trong nước. Nước là một dung môi  rất phân cực nên nó không tương tác với những nhóm alkyl không phân cực  trong pha tĩnh, do đó nó được coi như pha động yếu nhất và có tốc độ  rửa giải chậm nhất trong tất cả các dung môi động của SKPĐ.<br />
<br />
Hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ thường làm gia tăng độ nhớt dẫn đến việc tăng áp suất cột.<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_6.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_6.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 6: Độ nhớt của hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ ở 25[sup]o[/sup]C</div>
Việc  lựa chọn dung môi và thành phần dung môi trong pha động được tối ưu hóa  cho những hợp chất cần phân tích. Thông thường, người ta sử dụng hỗn  hợp dung môi MeOH/nước trước, rồi ACN/nước hay THF/nước. Với một hỗn hợp  chất phân tích phức tạp thì sẽ có sự trộn lẫn của các dung môi hữu cơ  với nước. Khi lựa chọn thì phải chọn các hỗn hợp MeOH, ACN và THF với  nước có độ rửa giải tương đồng.<br />
<br />
Thành phần pha động có thể cố  định trong suốt quá trình chạy sắc ký (chế độ isocratic) hoặc được thay  đổi theo một chương trình đã định sẵn (chương trình gradien dung môi) để  có hiệu quả tách tốt hơn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Một số đại lượng cơ bản trong phân tích sắc ký</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.1. Hệ số phân bố</span><br />
<br />
Cân bằng của một cấu tử X trong hệ sắc ký có thể được mô tả bằng phương trình như sau:  <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Hằng số cân bằng K cho cân bằng này được gọi là tỉ lệ phân bố hay hằng số phân bố (partition coefficient) và được tính như sau:<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.2.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.2.jpg]" class="mycode_img" /></div>
Với CS   : nồng độ cấu tử trong pha tĩnh.<br />
	 CM  : nồng độ cấu tử trong pha động.<br />
<br />
Hệ số K tùy thuộc vào bản chất pha tĩnh, pha động và chất phân tích.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.2. Thời gian lưu:</span><br />
<br />
tR : thời gian lưu của một cấu tử từ khi vào cột đến khi tách ra ngồi cột.<br />
tO  : thời gian để cho chất nào đó không có ái lực với pha tĩnh đi qua cột;  đó cũng là thời gian pha động đi từ đầu cột đến cuối cột và còn gọi là  thời gian lưu chết.<br />
tR' : thời gian lưu thật của một cấu tử. <br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_7.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_7.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 7. Thời gian lưu của cấu tử phân tích</div>
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.3. Hệ số dung lượng k’</span><br />
<br />
k’ được định nghĩa theo công thức sau:  <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.4.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.4.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Với VS   : thể tích pha tĩnh<br />
	 VM  : thể tích pha động<br />
<br />
Nếu k’~ 0, tR~ tO: chất ra rất nhanh, cột không có khả năng giữ chất lại.<br />
<br />
Nếu k’ càng lớn (tR  càng lớn): chất ở trong cột càng lâu, thời gian phân tích càng lâu, mũi có khả năng bị tù.<br />
<br />
Khoảng k’ lý tưởng là 2-5, nhưng khi phân tích một hỗn hợp phức tạp, k’ có thể chấp nhận trong khoảng rộng 1-20.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.4. Hiệu năng</span><br />
<br />
Hiệu  năng hay số đĩa lý thuyết N của cột đặc trưng cho khả năng tách mũi sắc  ký của các cấu tử trên cột. N càng lớn, hiệu năng tách càng cao. <br />
<br />
Số đĩa lý thuyết có thể đo trên sắc ký đồ. Người ta chứng minh được:</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.5.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.5.jpg]" class="mycode_img" /></div> Hay<br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.6.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.6.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Với W1/2 là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí ½ chiều cao mũi (phút)<br />
	 W là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí đáy mũi (phút)<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.5. Độ chọn lọc</span><br />
<br />
Đặc trưng cho khả năng tách hai chất của cột.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.7.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.7.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.6. Độ phân giải:</span><br />
<br />
Đây là đại  lượng biểu thị rõ cả ba khả năng của cột sắc ký: sự giải hấp, sự chọn  lọc và hiệu quả tách. Nó được xác định qua phương trình sau: </div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.8.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.8.jpg]" class="mycode_img" /></div> Hay<br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.9.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.9.jpg]" class="mycode_img" /></div> Với N được xác định từ phương trình (2.5) hoặc (2.6).]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[					    <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">HPLC là chữ viết tắt 4 chữ  cái đầu bằng tiếng Anh của phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (High  Performance Liquid Chromatography), trước đây gọi là phương pháp sắc ký  lỏng cao áp (High Pressure Liquid Chromatography).</span>					    <br />
											   <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Khái niệm</span><br />
<br />
Phương  pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) ra đời năm 1967-1968 trên cơ sở  phát triển và cải tiến từ phương pháp sắc ký cột cổ điển. HPLC là một  phương pháp chia tách trong đó pha động là chất lỏng và pha tĩnh chứa  trong cột là chất rắn đã được phân chia dưới dạng tiểu phân hoặc một  chất lỏng phủ lên một chất mang rắn, hay một chất mang đã được biến bằng  liên kết hóa học với các nhóm chức hữu cơ. Phương pháp này ngày càng  được sử dụng rộng rãi và phổ biến vì nhiều lý do: có độ nhạy cao, khả  năng định lượng tốt, thích hợp tách các hợp chất khó bay hơi hoặc dễ  phân hủy nhiệt.<br />
<br />
Phạm vi ứng dụng của phương pháp HPLC rất rộng,  như phân tích các hợp chất thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh, các chất  phụ gia thực phẩm trong lĩnh vực thực phẩm, dược phẩm, môi trường…<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Phân loại</span><br />
<br />
Dựa vào sự khác nhau về cơ chế tách chiết sử dụng trong HPLC, người ta chia HPLC thành 4 loại:</div><ul class="mycode_list"><li>Sắc ký hấp phụ hay sắc ký lỏng rắn (adsorption/liquid chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký phân bố (partition chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký ion (ion chromatography).  <br />
</li>
<li>Sắc ký rây phân tử (size exclusion/gel permeation chromatography).</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong đó, sắc ký phân bố (SKPB) được ứng dụng nhiều  nhất vì có thể phân tích được những hợp chất từ không phân cực đến những  hợp chất rất phân cực, hợp chất ion có khối lượng phân tử không quá lớn  (&lt;3000).<br />
<br />
SKPB được chia thành hai loại dựa trên độ phân cực  tương đối giữa pha tĩnh và pha động: sắc ký pha thường – SKPT (normal  phase chromatography) và sắc ký pha đảo – SKPĐ (reversed phase  chromatography).<br />
<br />
Trong SKPT, pha tĩnh sử dụng có độ phân cực cao  hơn pha động. Pha tĩnh loại này sẽ có ái lực với các hợp chất phân cực.  SKPT dùng để tách và phân tích các hợp chất có độ phân cực cao với phân  tử lượng không lớn lắm.<br />
<br />
SKPĐ là thuật ngữ để chỉ một loại sắc ký  trong đó pha tĩnh ít phân cực hơn pha động. Phương pháp này dùng phân  tích các hợp chất từ không phân cực đến phân cực. Hầu hết các hợp chất  hữu cơ có mạch carbon dài (ít phân cực) rất thích hợp cho phân tích bằng  SKPĐ. Dung môi sử dụng trong SKPĐ là các dung môi phân cực, trong đó  dung môi nước đóng vai trò quan trọng mà lại rẻ tiền. Do đó, SKPĐ được  ứng dụng nhiều và phổ biến hơn SKPT.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Pha tĩnh trong sắc ký pha đảo </span><br />
<br />
Trong  sắc ký phân bố nói chung, pha tĩnh là những hợp chất hữu cơ được gắn  lên chất mang rắn silica hoặc cấu thành từ silica theo hai kiểu:</div><ul class="mycode_list"><li>Pha tĩnh được giữ lại trên chất mang rắn bằng cơ chế hấp phụ vật lý → sắc ký lỏng-lỏng (liquid-liquid chromatography).  <br />
</li>
<li>Pha tĩnh liên kết hóa học với chất nền → sắc ký pha liên kết (bonded phase chromatography)<br />
Trong  quá trình sử dụng, người ta nhận thấy sắc ký pha liên kết có nhiều ưu  điểm hơn sắc ký pha lỏng-lỏng vì một số nguyên nhân sau: </li>
</ul>
<ul class="mycode_list"><li><ul class="mycode_list"><li>Pha tĩnh trong hệ sắc ký lỏng-lỏng dễ bị hòa tan bởi pha động nên dễ  bị mất mát pha tĩnh trong thời gian sử dụng và gây nhiễm đối với hợp  chất phân tích.  <br />
</li>
<li>Do pha tĩnh của sắc ký lỏng-lỏng dễ tan trong pha động nên người ta không thể ứng dụng phương pháp rửa giải gradient dung môi.</li>
</ul>
</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Vì vậy, người ta thường chỉ quan tâm đến loại sắc ký  phân bố pha liên kết và phần lớn các loại cột sử dụng hiện nay trong sắc  ký phân bố đều có cấu trúc dạng này.<br />
<br />
Bề mặt các hạt silica –  SiO2 (các hạt này có đường kính 3, 5 hoặc 10 µm) được xử lý (thủy phân)  bằng cách đun nóng với HCl 0,1M trong một hoặc hai ngày để tạo ra những  nhóm SiOH như sau (thông thường chỉ có khoảng 8 µmol SiOH/m2 bề mặt):</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 1. Bề mặt silica đã thủy phân</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Sau đó bề mặt silica đã thủy phân này sẽ được cho  phản ứng với các organochlorosilan để tạo ra các pha tĩnh không phân  cực, phân cực trung bình hoặc rất phân cực tùy theo nhóm R gắn vào.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_2.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_2.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 2: Tạo nhánh trên bề mặt silica </div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Thường chỉ khoảng 50% nhóm –OH mất H+ để tạo ra HCl  (tức &lt; 4µmol/m2 bề mặt bị silan hóa) vì sự kết hợp sẽ dần dần bị ảnh  hưởng bởi hiệu ứng lập thể. Ngoài nhóm Cl người ta còn sử dụng –OCH3.<br />
Hợp  chất cần phân tích khi đi qua pha tĩnh sẽ bị giữ lại bởi những lực  lượng tương tác khác nhau tùy thuộc tính chất, đặc điểm của chất tan và  pha tĩnh.<br />
<br />
Trong SKPĐ, nhóm thế R trong hợp chất siloxan hầu như   không phân cực hoặc ít phân  cực. Đó là các ankyl dây dài như C8  (n-octyl), C18 (n-octadecyl) còn gọi là ODS (octadecylsilan) hoặc các  nhóm alkyl ngắn hơn như C2; ngoài ra còn có cyclohexyl, phenyl trong đó  nhóm phenyl có độ phân cực cao hơn nhóm alkyl. Người ta nhận thấy các  alkyl dây dài cho kết quả tách ổn định hơn các loại khác nên đây là loại  được sử dụng nhiều nhất.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_3.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_3.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 3: Cấu trúc của cột ODS </div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Tuy nhiên do hiệu ứng lập thể nên trong cấu trúc của  pha tĩnh còn nhóm –OH chưa phản ứng, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình  tách sắc ký tùy môi trường pH phân tích.<br />
<br />
Trong môi trường quá  acid (pH &lt; 2) thì có sự phân ly các nhóm ether (-O-Si-C18) ra khỏi  nền. Lúc này cột sẽ mất hoạt tính dẫn đến chất cần phân tích không còn  tương tác tốt với pha tĩnh nữa.<br />
<br />
Trong môi trường baz (pH &gt; 7),  chính nền silic mang pha tĩnh có thể  bị hòa tan (SiO2 thành silicat),  hệ quả là N giảm và  số nhánh ghép cũng giảm, mũi  rộng ra và thời gian  lưu cũng có thể giảm. Kết quả phân tích như vậy sẽ mất đi độ chính xác.<br />
<br />
Một  trong những cách khắc phục hiện tượng này là dùng các chất như  trimethylchlorosilan ClSi(CH3)3 hoặc hexamethyldisilazan (ít sử dụng  hơn) để tương tác với nhóm –OH này (gọi là hiện tượng end-capping). Lúc  này ta sẽ có loại cột ít tương tác với chất phân tích có tính baz (cột  LC-DB của hãng SUPELCO).</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_4.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_4.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 4. Cấu trúc cột LC-DB</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Có một cách khác để loại trừ bớt ảnh hưởng của nhóm  –OH mà không cần tương tác với nó là thay những nhóm methyl của  –Si(CH3)2-C18 bằng những nhóm thế lớn hơn như isopropyl để những nhóm  này sẽ che đi những nhóm –OH, cản trở tương tác của nhóm –OH với chất  cần phân tích.<br />
<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_5.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_5.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 5: Cấu trúc cột có gốc isopropyl</div>
Người  ta còn ghép lên dây C18 một số nhóm phân cực để tăng thêm độ phân cực  của dây C18, làm cột có khả năng tách chọn lọc hơn đối với những hợp  chất phân cực mạnh (cột EPS – Expended Polar Selectivity).<br />
<br />
Ngoài  sườn silica, thời gian gần đây người ta có sử dụng đến nền nhựa  polystyren (Polystyren Reversed Phase – PRP) cho phép phân tích trong  môi trường pH từ 1 – 13. Cột này dễ sử dụng trong môi trường acid và baz  mạnh. <br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">4. Pha động trong sắc ký pha đảo </span><br />
<br />
Pha động trong sắc ký lỏng nói chung phải đạt những yêu cầu sau: <ul class="mycode_list"><li>Hòa tan mẫu phân tích.  <br />
</li>
<li>Phù hợp với đầu dò.  <br />
</li>
<li>Không hòa tan hay làm mòn pha tĩnh.  <br />
</li>
<li>Có độ nhớt thấp để tránh áp suất dội lại cao.  <br />
</li>
<li>Tinh khiết dùng cho sắc ký (HPLC grade).</li>
</ul>
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Trong sắc ký pha đảo, dung môi pha động có độ phân  cực cao. Trên lý thuyết chúng ta có thể sử dụng khá nhiều dung môi  nhưng kinh nghiệm thực tế cho thấy methanol (MeOH), acetonitrile (ACN)  và tetrahydrofuran (THF) là đạt yêu cầu nhất. Nước là một dung môi được  cho vào các dung môi hữu cơ để giảm khả năng rửa giải.<br />
<br />
Mỗi dung  môi đều đặc trưng bởi các hằng số vật lý như chỉ số khúc xạ (refractive  index), độ nhớt (viscocity), nhiệt độ sôi (boiling point), độ phân cực  (polarity index), độ rửa giải (eluent strength)…<br />
 <br />
Trong đó độ phân cực và độ rửa giải có tác động lớn lên khả năng phân tách của các mũi sắc ký.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Bang_1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Bang_1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Bảng 1: Tính chất của một số pha động trong sắc ký lỏng</div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Có ba thông số gây ảnh hưởng lớn đến tách các mũi sắc  ký: số đĩa lý thuyết N, hệ số dung lượng K’, độ chọn lọc α . Khi sự  thay đổi thành phần pha động không đem lại kết quả tách mũi theo yêu cầu  thì chúng ta phải thay đổi bản chất pha động (sử dụng dung môi khác),  tức thay đổi α. Đôi khi có thể phải thay đổi cả pha tĩnh.<br />
<br />
Trong  quá trình tách của SKPĐ, sự tương tác giữa hợp chất cần phân tích và pha  động phụ thuộc rất nhiều vào moment lưỡng cực, tính acid (cho proton)  hoặc tính baz (nhận proton) của dung môi.<br />
<br />
Thông thường pha động  trong SKPĐ bao gồm một hỗn hợp nước hoặc dung dịch đệm với một hoặc  nhiều dung môi hữu cơ phân cực tan được trong nước. Nước là một dung môi  rất phân cực nên nó không tương tác với những nhóm alkyl không phân cực  trong pha tĩnh, do đó nó được coi như pha động yếu nhất và có tốc độ  rửa giải chậm nhất trong tất cả các dung môi động của SKPĐ.<br />
<br />
Hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ thường làm gia tăng độ nhớt dẫn đến việc tăng áp suất cột.<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_6.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_6.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 6: Độ nhớt của hỗn hợp nước và dung môi hữu cơ ở 25[sup]o[/sup]C</div>
Việc  lựa chọn dung môi và thành phần dung môi trong pha động được tối ưu hóa  cho những hợp chất cần phân tích. Thông thường, người ta sử dụng hỗn  hợp dung môi MeOH/nước trước, rồi ACN/nước hay THF/nước. Với một hỗn hợp  chất phân tích phức tạp thì sẽ có sự trộn lẫn của các dung môi hữu cơ  với nước. Khi lựa chọn thì phải chọn các hỗn hợp MeOH, ACN và THF với  nước có độ rửa giải tương đồng.<br />
<br />
Thành phần pha động có thể cố  định trong suốt quá trình chạy sắc ký (chế độ isocratic) hoặc được thay  đổi theo một chương trình đã định sẵn (chương trình gradien dung môi) để  có hiệu quả tách tốt hơn.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5. Một số đại lượng cơ bản trong phân tích sắc ký</span><br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.1. Hệ số phân bố</span><br />
<br />
Cân bằng của một cấu tử X trong hệ sắc ký có thể được mô tả bằng phương trình như sau:  <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.1.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.1.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Hằng số cân bằng K cho cân bằng này được gọi là tỉ lệ phân bố hay hằng số phân bố (partition coefficient) và được tính như sau:<br />
 </div><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.2.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.2.jpg]" class="mycode_img" /></div>
Với CS   : nồng độ cấu tử trong pha tĩnh.<br />
	 CM  : nồng độ cấu tử trong pha động.<br />
<br />
Hệ số K tùy thuộc vào bản chất pha tĩnh, pha động và chất phân tích.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.2. Thời gian lưu:</span><br />
<br />
tR : thời gian lưu của một cấu tử từ khi vào cột đến khi tách ra ngồi cột.<br />
tO  : thời gian để cho chất nào đó không có ái lực với pha tĩnh đi qua cột;  đó cũng là thời gian pha động đi từ đầu cột đến cuối cột và còn gọi là  thời gian lưu chết.<br />
tR' : thời gian lưu thật của một cấu tử. <br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/Hinh_7.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: Hinh_7.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align">Hình 7. Thời gian lưu của cấu tử phân tích</div>
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.3. Hệ số dung lượng k’</span><br />
<br />
k’ được định nghĩa theo công thức sau:  <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.4.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.4.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Với VS   : thể tích pha tĩnh<br />
	 VM  : thể tích pha động<br />
<br />
Nếu k’~ 0, tR~ tO: chất ra rất nhanh, cột không có khả năng giữ chất lại.<br />
<br />
Nếu k’ càng lớn (tR  càng lớn): chất ở trong cột càng lâu, thời gian phân tích càng lâu, mũi có khả năng bị tù.<br />
<br />
Khoảng k’ lý tưởng là 2-5, nhưng khi phân tích một hỗn hợp phức tạp, k’ có thể chấp nhận trong khoảng rộng 1-20.<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.4. Hiệu năng</span><br />
<br />
Hiệu  năng hay số đĩa lý thuyết N của cột đặc trưng cho khả năng tách mũi sắc  ký của các cấu tử trên cột. N càng lớn, hiệu năng tách càng cao. <br />
<br />
Số đĩa lý thuyết có thể đo trên sắc ký đồ. Người ta chứng minh được:</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.5.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.5.jpg]" class="mycode_img" /></div> Hay<br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.6.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.6.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Với W1/2 là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí ½ chiều cao mũi (phút)<br />
	 W là chiều rộng mũi sắc ký ở vị trí đáy mũi (phút)<br />
<br />
<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.5. Độ chọn lọc</span><br />
<br />
Đặc trưng cho khả năng tách hai chất của cột.</div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.7.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.7.jpg]" class="mycode_img" /></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">5.6. Độ phân giải:</span><br />
<br />
Đây là đại  lượng biểu thị rõ cả ba khả năng của cột sắc ký: sự giải hấp, sự chọn  lọc và hiệu quả tách. Nó được xác định qua phương trình sau: </div> <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.8.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.8.jpg]" class="mycode_img" /></div> Hay<br />
 <div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://www.case.vn/DataNews/News/118/2.9.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 2.9.jpg]" class="mycode_img" /></div> Với N được xác định từ phương trình (2.5) hoặc (2.6).]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Kỹ thuật chiết pha rắn (SPE) ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-290.html</link>
			<pubDate>Thu, 08 Mar 2012 08:29:10 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-290.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên tắc và điều kiện </span><br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.1. Nguyên tắc chung </span><br />
 <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyên tắc </span></span><br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">• Chiết pha rắn cũng là quá trình phân  bố của các chất giữa 2 pha, trong đó lúc đầu chất mẫu ở dạng lỏng (pha  nước, hay hữu cơ), còn chất chiết ở dạng rắn, dạng hạt nhỏ và xốp đường  kính 25 - 70 μm. Vì thế nên có tên là chiết pha rắn (Solid Phase  Extraction ), hay chiết rắn-lỏng. <br />
 • Chất chiết được gọi là pha tĩnh, và được nhồi vào một cột chiết nhỏ,  cột chiết kích thước: 6 x 1 cm, hay dung lượng chiết 100-600 mg, hoặc  dạng đĩa chiết có kích thước dầy 1-2 mm và đường kính 3-4 cm. Chất chiết  là các hạt Silica trung tính, các hạt ôxit nhôm, hay các Silicagen  trung tính đã bị alkyl hoá nhóm -OH bằng nhóm mạch carbon thẳng -C2,  -C4, -C8, -C18,.. , hay nhân phenyl. Nó được chế tạo trong điều kiện  giống như pha tĩnh của sắc ký HPLC, và các hạt này có độ xốp lớn, với  diện tích bề mặt xốp thường từ 50 - 300 m2/gam.<br />
  <br />
 • Khi xử lý mẫu, dung dịch chất mẫu được dội lên cột chiết. Lúc này pha  tĩnh sẽ tương tác với các chất và giữ một nhóm chất phân tích lại trên  cột (trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với  dung môi hoà tan mẫu. Như thế là chúng ta thu được nhóm chất cần phân  tích ở trên pha tĩnh (chất chiết rắn). <br />
 • Sau đó dùng một dung môi thích hợp hoà tan tốt các chất phân tích để  rửa giải chúng ra khỏi pha tĩnh (cột chiết), và chúng ta thu được dung  dịch có chất phân tích để xác định chúng theo một cách đã chọn. <br />
 </div>
 <br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Các loại chất chiết pha rắn </span><br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rắn được chế tạo và phân chia theo các loại chất: </div>
 • Loại hấp phụ pha thường. Đó là các Silica trung tính và ôxit nhôm, <br />
 • Hấp phụ pha ngược. Đó là các Silica thường được alkyl hoá nhóm-OH, <br />
 • Loại chất trao đổi iôn (để tách Cation và Anion), <br />
 • Chất rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn, kích thước của phân tử chất, <br />
 • Loại chất hấp phụ khí (purge and trap Extraction), để hấp thụ chất khí. <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Các kiểu và cơ chế chiết pha rắn</span> <br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Chính vì có nhiều loại chất chiết pha  rắn, cho nên kỹ thuật chiết pha rắn cũng có nhiều cơ chế và quá trình  động học khác nhau, theo bản chất của mỗi loại chất chiết (pha chiết).  Nói chung, các chất chiết pha rắn này cũng tương tự như các pha tĩnh  trong sắc lý lỏng hiệu năng cao (HPLC). Nó có thể là dạng cột chiết (1x6  cm có thể tích 4-6 mL) hay dạng đĩa chiết (dầy 1-2 mm và đường kính 3-4  cm). Do đó chiết pha rắn cũng có 3 loại cơ chế chính là: </div>
 1. Hấp phụ pha thường (loại NP), và Hấp phụ pha ngược (loại RP), <br />
 2. Trao đổi ion và cặp ion đối với các chất dạng ion (loại IEx), <br />
 3. Rây phân tử theo độ lớn của chất phân tích (Gel). <br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.2. Các điều kiện của chiết pha rắn </span><br />
	 Quá trình chiết ở đây thực chất cũng là sự phân bố của chất phân tích  giữa 2 pha, pha rắn (chất chiết) và pha lỏng (dung dịch chứa chất phân  tích) không trộn lẫn vào nhau trong những điều kiện nhất định, như pH,  dung môi, nhiệt độ, tốc độ chảy của mẫu qua cột chiết. Trong đó hệ số  phân bố nhiệt động Kb của chất phân tích giữa hai pha (rắn và lỏng chứa  mẫu) cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết. Nó cũng tương  tự như trong hệ sắc ký cột lỏng-rắn (của các hệ HPLC). <br />
 Vì thế muốn thực hiện chiết pha rắn tốt phải có các điều kiện sau đây: <br />
 <br />
 • Pha rắn hay chất chiết (dạng cột chiết hay đĩa chiết) phải có tính  chất hấp thụ hay trao đổi chọn lọc với một chất, hay một nhóm chất phân  tích nhất định, tức là tính chọn lọc của pha tĩnh chiết. <br />
 • Các chất chiết và dung môi rửa giải phải có độ sạch cao theo yêu cầu của cấp hàm lượng phân tích. <br />
 • Hệ số phân bố nhiệt động Kfb của cân bằng chiết phải lớn, để có được hiệu suất chiết cao. <br />
 • Quá trình chiết phải xẩy ra nhanh và nhanh đạt cân bằng, nhưng không  có tương tác phản ứng hoá học làm mất hay hỏng pha rắn và chất phân  tích. <br />
 • Quá trình chiết phải có tính thuận nghịch, để còn có thể rửa giải được  tốt chất phân tích ra khỏi pha chiết bằng một pha động phù hợp. <br />
 • Không làm nhiễm bẩn thêm chất phân tích trong quá trình chiết bởi bất kỳ từ nguồn nào. <br />
 • Sự chiết phải được thực hiện trong điều kiện nhất định phù hợp, phải  lặp lại được tốt và tất nhiên là càng đơn giản dễ thực hiện thì càng  tốt.		]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên tắc và điều kiện </span><br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.1. Nguyên tắc chung </span><br />
 <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Nguyên tắc </span></span><br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">• Chiết pha rắn cũng là quá trình phân  bố của các chất giữa 2 pha, trong đó lúc đầu chất mẫu ở dạng lỏng (pha  nước, hay hữu cơ), còn chất chiết ở dạng rắn, dạng hạt nhỏ và xốp đường  kính 25 - 70 μm. Vì thế nên có tên là chiết pha rắn (Solid Phase  Extraction ), hay chiết rắn-lỏng. <br />
 • Chất chiết được gọi là pha tĩnh, và được nhồi vào một cột chiết nhỏ,  cột chiết kích thước: 6 x 1 cm, hay dung lượng chiết 100-600 mg, hoặc  dạng đĩa chiết có kích thước dầy 1-2 mm và đường kính 3-4 cm. Chất chiết  là các hạt Silica trung tính, các hạt ôxit nhôm, hay các Silicagen  trung tính đã bị alkyl hoá nhóm -OH bằng nhóm mạch carbon thẳng -C2,  -C4, -C8, -C18,.. , hay nhân phenyl. Nó được chế tạo trong điều kiện  giống như pha tĩnh của sắc ký HPLC, và các hạt này có độ xốp lớn, với  diện tích bề mặt xốp thường từ 50 - 300 m2/gam.<br />
  <br />
 • Khi xử lý mẫu, dung dịch chất mẫu được dội lên cột chiết. Lúc này pha  tĩnh sẽ tương tác với các chất và giữ một nhóm chất phân tích lại trên  cột (trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với  dung môi hoà tan mẫu. Như thế là chúng ta thu được nhóm chất cần phân  tích ở trên pha tĩnh (chất chiết rắn). <br />
 • Sau đó dùng một dung môi thích hợp hoà tan tốt các chất phân tích để  rửa giải chúng ra khỏi pha tĩnh (cột chiết), và chúng ta thu được dung  dịch có chất phân tích để xác định chúng theo một cách đã chọn. <br />
 </div>
 <br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Các loại chất chiết pha rắn </span><br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rắn được chế tạo và phân chia theo các loại chất: </div>
 • Loại hấp phụ pha thường. Đó là các Silica trung tính và ôxit nhôm, <br />
 • Hấp phụ pha ngược. Đó là các Silica thường được alkyl hoá nhóm-OH, <br />
 • Loại chất trao đổi iôn (để tách Cation và Anion), <br />
 • Chất rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn, kích thước của phân tử chất, <br />
 • Loại chất hấp phụ khí (purge and trap Extraction), để hấp thụ chất khí. <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Các kiểu và cơ chế chiết pha rắn</span> <br />
 <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align">Chính vì có nhiều loại chất chiết pha  rắn, cho nên kỹ thuật chiết pha rắn cũng có nhiều cơ chế và quá trình  động học khác nhau, theo bản chất của mỗi loại chất chiết (pha chiết).  Nói chung, các chất chiết pha rắn này cũng tương tự như các pha tĩnh  trong sắc lý lỏng hiệu năng cao (HPLC). Nó có thể là dạng cột chiết (1x6  cm có thể tích 4-6 mL) hay dạng đĩa chiết (dầy 1-2 mm và đường kính 3-4  cm). Do đó chiết pha rắn cũng có 3 loại cơ chế chính là: </div>
 1. Hấp phụ pha thường (loại NP), và Hấp phụ pha ngược (loại RP), <br />
 2. Trao đổi ion và cặp ion đối với các chất dạng ion (loại IEx), <br />
 3. Rây phân tử theo độ lớn của chất phân tích (Gel). <br />
 <br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.2. Các điều kiện của chiết pha rắn </span><br />
	 Quá trình chiết ở đây thực chất cũng là sự phân bố của chất phân tích  giữa 2 pha, pha rắn (chất chiết) và pha lỏng (dung dịch chứa chất phân  tích) không trộn lẫn vào nhau trong những điều kiện nhất định, như pH,  dung môi, nhiệt độ, tốc độ chảy của mẫu qua cột chiết. Trong đó hệ số  phân bố nhiệt động Kb của chất phân tích giữa hai pha (rắn và lỏng chứa  mẫu) cũng là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết. Nó cũng tương  tự như trong hệ sắc ký cột lỏng-rắn (của các hệ HPLC). <br />
 Vì thế muốn thực hiện chiết pha rắn tốt phải có các điều kiện sau đây: <br />
 <br />
 • Pha rắn hay chất chiết (dạng cột chiết hay đĩa chiết) phải có tính  chất hấp thụ hay trao đổi chọn lọc với một chất, hay một nhóm chất phân  tích nhất định, tức là tính chọn lọc của pha tĩnh chiết. <br />
 • Các chất chiết và dung môi rửa giải phải có độ sạch cao theo yêu cầu của cấp hàm lượng phân tích. <br />
 • Hệ số phân bố nhiệt động Kfb của cân bằng chiết phải lớn, để có được hiệu suất chiết cao. <br />
 • Quá trình chiết phải xẩy ra nhanh và nhanh đạt cân bằng, nhưng không  có tương tác phản ứng hoá học làm mất hay hỏng pha rắn và chất phân  tích. <br />
 • Quá trình chiết phải có tính thuận nghịch, để còn có thể rửa giải được  tốt chất phân tích ra khỏi pha chiết bằng một pha động phù hợp. <br />
 • Không làm nhiễm bẩn thêm chất phân tích trong quá trình chiết bởi bất kỳ từ nguồn nào. <br />
 • Sự chiết phải được thực hiện trong điều kiện nhất định phù hợp, phải  lặp lại được tốt và tất nhiên là càng đơn giản dễ thực hiện thì càng  tốt.		]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Cơ sở, nguyên tắc và điều kiện chiết trong xử lý mẫu ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-289.html</link>
			<pubDate>Thu, 08 Mar 2012 08:27:51 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-289.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: large;" class="mycode_size">1. Hệ số phân bố của chất </span></span><br />
   <br />
 <br />
		 Hệ số phân bố của chất tan (chất phân tích) trong 2 pha không  tan vào nhau là một hằng số hoá lý (hằng số nhiệt động) và nó đặc trưng  cho sự phân bố của mỗi chất. Nó cho ta biết sự phân bố ( hay sự hoà tan )  của chất phân tích vào trong hai pha (2 dung môi) không trộn lẫn vào  nhau theo tỷ lệ, hay ở mức độ nào. Nếu giá trị hằng số này càng lín, thà  sự phân bố đó càng khác nhau nhiều và càng thuận lợi cho sự chiết tách  các chất từ pha này sang pha kia. <br />
    <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ví dụ</span></span> có chất tan X được phân bố vào hệ pha gồm 2 dung môi A và B <br />
   (ví dụ Benzen và nước) không trộn vào nhau, thà hệ số phân bố được xác định theo biểu thức sau. <br />
   <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kfb = Cx(A)/ Cx(B) </span><br />
   Trong đó: <br />
   + Cx(A) là nồng độ chất X trong pha A (dung môi A, pha Benzen); <br />
   + Cần Cx(B) là nồng độ của chất X trong pha B (dung môi B, pha nước). <br />
    Như vậy nếu như hệ số phân bố <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kfb &gt; 99/1, </span>thà coi như chất X  đó chuyển gần hết vào pha A. Đó là một điều kiện của quá trình chiết để  lấy chất phân tích và tách chúng ra khái chất nền (matrix) của mẫu ban  đầu, chuyển chất cần phân tích vào dung môi chiết. Sau đó xác định chúng  trong dung môi này. Thụng thường người ta chiết chất phân tích từ pha  nước vào pha hữu cơ không tan vào nước. Hai pha này tạo thành hệ chiết  (hệ pha), ví dụ hệ pha: (Benzen/ H2O), (CCl4/ H2O), (CHCl3/ H2O), (MIBK/  H2O), v.v. <br />
 <br />
 <br />
 <br />
   <span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Nguyên tắc và cơ sở của sự chiết </span></span><br />
		   Chiết là dựa trên cơ sở sự phân bố (hay hoà tan) khác nhau  của chất phân tích vào trong hai pha (2 dung môi) không trộn lẫn vào  nhau. Tức là các chất phân tích tan tốt trong dung môi này, nhưng lại  không tan tốt <br />
   trong dung môi kia. Nghĩa là sự phân bố của một chất trong hai dung  môi ( 2 pha) là rất khác nhau. Nhờ đó mà chúng ta lấy được chất cần phân  tích ra khái pha mẫu ban đầu, chuyển nó vào pha thứ 2 (dung môi) mà  chúng ta mong muốn. Sau đó xác định nó trong dung môi chiết. Như thế yếu  tố quyết định sự tách và xử lý mẫu ở đây là hệ số phân bố của chất  trong 2 pha( dung môi), và các điều kiện thực hiện lắc chiết. Khi hệ số <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kpb </span>lín sẽ có hiệu suất chiết cao.<br />
 <br />
  <br />
   <span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Các điều kiện của sự chiết </span></span><br />
		Để có được kết quả chiết tốt, quá trình chiết phải có các điều kiện và đảm bảo được các yêu cầu nhất định sau đây: <br />
   - Dung môi chiết phải tinh khiết cao, để không làm nhiễm bẩn thêm các chất phân tích vào mẫu. <br />
   - Dung môi chiết phải hoà tan tốt các chất phân tích, nhưng lại không hoà tan tốt với các chất khác có trong mẫu. <br />
   - Hệ số phân bố của hệ chiết phải lín, để cho sự chiết được triệt để. <br />
   - Cõn bằng chiết nhanh đạt được và thuận nghịch, để giải chiết được tốt. <br />
   - Sự phân líp khi chiết phải rừ ràng, nhanh và dễ tách ra riờng biệt các pha. <br />
   - Phải chọn môi trường axit, pH, loại axit thích hợp, <br />
   - Phải thực hiện trong nhiệt độ phù hợp và giữ không đổi trong cả quá trình. <br />
   - Phải lắc hay trộn đều mạnh để quá trình chiết xẩy ra được tốt.		 [/b][/b]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: large;" class="mycode_size">1. Hệ số phân bố của chất </span></span><br />
   <br />
 <br />
		 Hệ số phân bố của chất tan (chất phân tích) trong 2 pha không  tan vào nhau là một hằng số hoá lý (hằng số nhiệt động) và nó đặc trưng  cho sự phân bố của mỗi chất. Nó cho ta biết sự phân bố ( hay sự hoà tan )  của chất phân tích vào trong hai pha (2 dung môi) không trộn lẫn vào  nhau theo tỷ lệ, hay ở mức độ nào. Nếu giá trị hằng số này càng lín, thà  sự phân bố đó càng khác nhau nhiều và càng thuận lợi cho sự chiết tách  các chất từ pha này sang pha kia. <br />
    <span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Ví dụ</span></span> có chất tan X được phân bố vào hệ pha gồm 2 dung môi A và B <br />
   (ví dụ Benzen và nước) không trộn vào nhau, thà hệ số phân bố được xác định theo biểu thức sau. <br />
   <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kfb = Cx(A)/ Cx(B) </span><br />
   Trong đó: <br />
   + Cx(A) là nồng độ chất X trong pha A (dung môi A, pha Benzen); <br />
   + Cần Cx(B) là nồng độ của chất X trong pha B (dung môi B, pha nước). <br />
    Như vậy nếu như hệ số phân bố <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kfb &gt; 99/1, </span>thà coi như chất X  đó chuyển gần hết vào pha A. Đó là một điều kiện của quá trình chiết để  lấy chất phân tích và tách chúng ra khái chất nền (matrix) của mẫu ban  đầu, chuyển chất cần phân tích vào dung môi chiết. Sau đó xác định chúng  trong dung môi này. Thụng thường người ta chiết chất phân tích từ pha  nước vào pha hữu cơ không tan vào nước. Hai pha này tạo thành hệ chiết  (hệ pha), ví dụ hệ pha: (Benzen/ H2O), (CCl4/ H2O), (CHCl3/ H2O), (MIBK/  H2O), v.v. <br />
 <br />
 <br />
 <br />
   <span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">2. Nguyên tắc và cơ sở của sự chiết </span></span><br />
		   Chiết là dựa trên cơ sở sự phân bố (hay hoà tan) khác nhau  của chất phân tích vào trong hai pha (2 dung môi) không trộn lẫn vào  nhau. Tức là các chất phân tích tan tốt trong dung môi này, nhưng lại  không tan tốt <br />
   trong dung môi kia. Nghĩa là sự phân bố của một chất trong hai dung  môi ( 2 pha) là rất khác nhau. Nhờ đó mà chúng ta lấy được chất cần phân  tích ra khái pha mẫu ban đầu, chuyển nó vào pha thứ 2 (dung môi) mà  chúng ta mong muốn. Sau đó xác định nó trong dung môi chiết. Như thế yếu  tố quyết định sự tách và xử lý mẫu ở đây là hệ số phân bố của chất  trong 2 pha( dung môi), và các điều kiện thực hiện lắc chiết. Khi hệ số <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">Kpb </span>lín sẽ có hiệu suất chiết cao.<br />
 <br />
  <br />
   <span style="font-size: large;" class="mycode_size"><span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">3. Các điều kiện của sự chiết </span></span><br />
		Để có được kết quả chiết tốt, quá trình chiết phải có các điều kiện và đảm bảo được các yêu cầu nhất định sau đây: <br />
   - Dung môi chiết phải tinh khiết cao, để không làm nhiễm bẩn thêm các chất phân tích vào mẫu. <br />
   - Dung môi chiết phải hoà tan tốt các chất phân tích, nhưng lại không hoà tan tốt với các chất khác có trong mẫu. <br />
   - Hệ số phân bố của hệ chiết phải lín, để cho sự chiết được triệt để. <br />
   - Cõn bằng chiết nhanh đạt được và thuận nghịch, để giải chiết được tốt. <br />
   - Sự phân líp khi chiết phải rừ ràng, nhanh và dễ tách ra riờng biệt các pha. <br />
   - Phải chọn môi trường axit, pH, loại axit thích hợp, <br />
   - Phải thực hiện trong nhiệt độ phù hợp và giữ không đổi trong cả quá trình. <br />
   - Phải lắc hay trộn đều mạnh để quá trình chiết xẩy ra được tốt.		 [/b][/b]]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng sắc ký lỏng cao áp ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-199.html</link>
			<pubDate>Wed, 29 Feb 2012 02:05:25 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-199.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://hailysci.com/upload/Image/ACQUITY_UPLC_System_overview.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: ACQUITY_UPLC_System_overview.jpg]" class="mycode_img" /></div>
 <span style="font-size: medium;" class="mycode_size">Nhà thực vật học người Nga Mikhail Tsvet (Mikhail Semyonovich Tsvet)  phát minh ra kỹ thuật sắc ký vào năm 1903 khi ông đang nghiên cứu về  chlorophyll. Chữ sắc trong sắc ký có nghĩa là màu; nó vừa là tên của  Tsvet trong nghĩa tiếng Nga và vừa là màu của các sắc tố thực vật ông  phân tích vào lúc bấy giờ. Tên này vẫn tiếp tục được dùng dù các phương  pháp hiện đại không còn liên quan đến màu sắc. </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Kỹ thuật sắc ký phát triển nhanh chóng trong suốt <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%89_20" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">thế kỷ 20</span></a>.  Các nhà nghiên cứu nhận thấy nguyên tắc của sắc ký Tsvet có thể được áp  dụng theo nhiều cách khác nhau, từ đó họ cải tiến và chuyển đổi thành  nhiều loại sắc ký khác nhau. Đồng thời, kỹ thuật thực hiện sắc ký cũng  cải tiến liên tục nhằm phân tích các phân tử tương tự hoặc khác nhau.</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Ví dụ:</span></span></span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Sắc kí phân tích</span> được dùng để xác định danh tính và nồng độ các phân tử trong hỗn hợp. </span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Hoặc s<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">ắc kí tinh chế</span></span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> được dùng để tinh chế các chất có trong hỗn hợp.</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc ký</span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> là một kỹ thuật <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A1_h%E1%BB%8Dc_ph%C3%A2n_t%C3%ADch" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">hoá phân tích</span></a> dùng để tách các chất trong một hỗn hợp, bao gồm việc cho mẫu chứa chất cần phân tích trong pha động (thường là dòng chảy của <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dung_m%C3%B4i&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">dung môi</span></a>)  di chuyển qua pha tĩnh. Pha tĩnh trì hoãn sự di chuyển của các thành  phần trong mẫu. Khi các thành phần này di chuyển qua hệ thống sắc ký với  tốc độ khác nhau, chúng sẽ được tách khỏi nhau theo thời gian. Mỗi một  thành phần đi qua hệ thống trong một khoảng thời gian riêng biệt, gọi là  thời gian lưu.</span></span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><br />
<br />
</span></span><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://hailysci.com/upload/Image/1203415536609_HPLC.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 1203415536609_HPLC.jpg]" class="mycode_img" /><br />
</div><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><br />
<span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong kỹ thuật sắc ký, hỗn hợp được chuyên chở trong <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%A5t_l%E1%BB%8Fng&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">chất lỏng</span></a> hoặc <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_kh%C3%AD" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">khí</span></a> và các thành phần của nó được tách ra do sự phân bố khác nhau của các <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%A5t_tan&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">chất hòa tan</span></a>  khi chúng chảy qua pha tĩnh rắn hoặc lỏng. Nhiều kỹ thuật khác nhau đã  được dùng để phân tích hợp chất phức tạp dựa trên ái tính khác nhau của  các chất trong môi trường động khí hoặc lỏng và đối với môi trường <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%A5p_ph%E1%BB%A5&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">hấp phụ</span></a> tĩnh mà chúng di chuyển quanhư <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">giấy</span></a>, <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gelatin&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">gelatin</span></a> hay gel <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Magnesium_silicate&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">magnesium silicate</span></a>,...</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: red;" class="mycode_color">Một số kỹ thuật sắc ký ứng dụng vào nghiên cứu </span></span></span> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc  ký là kỹ thuật phân tích chất, phân tích khác biệt trong phân bố giữa  pha động và pha tĩnh để tách các thành phần trong hỗn hợp và thành phần  của hỗn hợp có thể tương tác với pha tĩnh dựa trên điện tích, độ tan  tương đối và tính hấp phụ của chất đó.<br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Mức lưu giữ</span></span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Mức  lưu giữ đo tốc độ một chất di chuyển trong hệ thống sắc ký. Ở các hệ  thống liên tục như sắc ký lỏng cao áp_HPLC (High Performance Liquid  Chromatography) hay sắc ký khí _GC (Gas Chromatography) mà các hợp chất  được chiết xuất bởi chất chiết xuất, mức lưu giữ được đo bằng thời gian  lưu R[sub]t[/sub] hay t[sub]R[/sub], khoảng thời gian giữa tiêm và phát  hiện. Ở các hệ thống ngắt quãng như TLC (Thin Layer Chromatography), mức  lưu giữ được đo bằng hệ số lưu R[sub]f[/sub], quãng đường di chuyển của  hợp chất chia cho quãng đường di chuyển của chất chiết xuất (chạy nhanh  hơn hợp chất cần phân tích). Mức lưu giữ của một chất thường khác nhau  đáng kể giữa các thí nghiệm và phòng thí nghiệm do dao động của chất  chiết xuất, pha tĩnh, nhiệt độ và thiết kế của thí nghiệm. Vì vậy điều  quan trọng là phải so sánh mức lưu giữ của hợp chất muốn khảo sát với  một hoặc nhiều hợp chất chuẩn trong cùng điều kiện.</span></span> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Các kỹ thuật sắc ký:</span></span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong  phòng thí nghiệm hoặc xét nghiệm, kỹ thuật sắc ký thường được áp dụng  gồm những loại sau: sắc ký giấy, sắc ký khí-lỏng, sắc ký trao đổi ion,  sắc ký ái tính ion kim loại bất động, sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký  thẩm thấu gel, sắc ký ái lực, sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng cap áp,…Tùy  thuộc vào từng hợp chất hoặc thành phần chất cần phân tích, chúng ta  phải sử dụng một số kỹ thuật khác nhau. Chẳng hạn, muốn phân tích tất cả  các thành phần có mặt trong một viên artesunate giả, người ta phải sử  dụng phương pháp sắc ký lớp mỏng, sắc ký khí, sắc ký trao đổi ion, acid  amin, tán xạ tia X,…mới phân tích và kết luận hết các thành phần trong  viên.</span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn giới thiệu sơ nét một số phương pháp sắc ky sau:</span></span> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc  ký lớp mỏng (TLC_Thin Layer Chromatography) là kỹ thuật sắc ký khá  nhanh, đơn giản và tiện lợi. Nó giúp nhận biết nhanh được số lượng thành  phần có trong hỗn hợp đem sắc ký. Trong phương pháp sắc ký lớp mỏng,  thành phần trong hỗn hợp được xác định nhờ so sách hệ số lưu của hỗn hợp  Rf và hệ số lưu Rf của một số chất đã biết. Bản sắc ký dùng trong sắc  ký lớp mỏng TLC thường làm bằng thủy tinh, kim loại hoặc bản plastic  được phủ lên trên bằng 1 lớp chất rắn mỏng như silicagel, bột nhôm.</span></span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Phương  pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC): HPLC là một sắc ký cột (column  chromatograph ) đi kèm với một detector nhạy để có thể phát hiện được  các chất tách ra trong quá trình chạy sắc ký. Với những tiến bộ kỹ thuật  về cột, detector đã chuyển sắc ký cột thành phương pháp phân tích có  tốc độ nhanh và hiệu suất cao. Loại này cần phải có hệ thống bơm cao áp  để đẩy pha động với áp suất cao đến khoảng 30Mpa (300 atm) nhằm tạo dòng  chảy với lưu lương vài ml/ phút. Số lượng mẩu phân tích bằng HPLC chỉ  cần khoảng 20microlit.</span></span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Phương  phpá sắc ký khí: điểm biệt giữa sắc ký lỏng cap áp (HPLC) và sắc ký khí  (GC) là trong phương pháp HPLC, mẫu chỉ cần làm hoà tan mà không cần  làm bay hơi, do đó HPLC có thể phân tích được các chất mà không sợ gây  ra sự phân hủy do nhiệt độ trong quá trình phân tích.</span></span></div> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Một  số thông tin chi tiết liên quan đến lịch sử (history), quy trình vận  hành (operation), ứng dụng (applications), pha động (mobile phase) hoặc  pha tính (stationary phase), sắc ký cột (column), hỏi đáp vopứo nhà sản  xuất (manufactures), trợ lý về kỹ thuật (technical assistance), các lỗi  sai sót và cách khắc phục (troubleshooting), …</span></span></span></span></span></span></span>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://hailysci.com/upload/Image/ACQUITY_UPLC_System_overview.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: ACQUITY_UPLC_System_overview.jpg]" class="mycode_img" /></div>
 <span style="font-size: medium;" class="mycode_size">Nhà thực vật học người Nga Mikhail Tsvet (Mikhail Semyonovich Tsvet)  phát minh ra kỹ thuật sắc ký vào năm 1903 khi ông đang nghiên cứu về  chlorophyll. Chữ sắc trong sắc ký có nghĩa là màu; nó vừa là tên của  Tsvet trong nghĩa tiếng Nga và vừa là màu của các sắc tố thực vật ông  phân tích vào lúc bấy giờ. Tên này vẫn tiếp tục được dùng dù các phương  pháp hiện đại không còn liên quan đến màu sắc. </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Kỹ thuật sắc ký phát triển nhanh chóng trong suốt <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_k%E1%BB%89_20" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">thế kỷ 20</span></a>.  Các nhà nghiên cứu nhận thấy nguyên tắc của sắc ký Tsvet có thể được áp  dụng theo nhiều cách khác nhau, từ đó họ cải tiến và chuyển đổi thành  nhiều loại sắc ký khác nhau. Đồng thời, kỹ thuật thực hiện sắc ký cũng  cải tiến liên tục nhằm phân tích các phân tử tương tự hoặc khác nhau.</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-style: italic;" class="mycode_i"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Ví dụ:</span></span></span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> <span style="font-style: italic;" class="mycode_i">Sắc kí phân tích</span> được dùng để xác định danh tính và nồng độ các phân tử trong hỗn hợp. </span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Hoặc s<span style="font-style: italic;" class="mycode_i">ắc kí tinh chế</span></span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> được dùng để tinh chế các chất có trong hỗn hợp.</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc ký</span></span></span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color"> là một kỹ thuật <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ho%C3%A1_h%E1%BB%8Dc_ph%C3%A2n_t%C3%ADch" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">hoá phân tích</span></a> dùng để tách các chất trong một hỗn hợp, bao gồm việc cho mẫu chứa chất cần phân tích trong pha động (thường là dòng chảy của <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Dung_m%C3%B4i&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">dung môi</span></a>)  di chuyển qua pha tĩnh. Pha tĩnh trì hoãn sự di chuyển của các thành  phần trong mẫu. Khi các thành phần này di chuyển qua hệ thống sắc ký với  tốc độ khác nhau, chúng sẽ được tách khỏi nhau theo thời gian. Mỗi một  thành phần đi qua hệ thống trong một khoảng thời gian riêng biệt, gọi là  thời gian lưu.</span></span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><br />
<br />
</span></span><div style="text-align: CENTER;" class="mycode_align"><img src="http://hailysci.com/upload/Image/1203415536609_HPLC.jpg" loading="lazy"  alt="[Image: 1203415536609_HPLC.jpg]" class="mycode_img" /><br />
</div><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="font-family: Arial;" class="mycode_font"><br />
<span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong kỹ thuật sắc ký, hỗn hợp được chuyên chở trong <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%A5t_l%E1%BB%8Fng&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">chất lỏng</span></a> hoặc <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BA%A5t_kh%C3%AD" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">khí</span></a> và các thành phần của nó được tách ra do sự phân bố khác nhau của các <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ch%E1%BA%A5t_tan&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">chất hòa tan</span></a>  khi chúng chảy qua pha tĩnh rắn hoặc lỏng. Nhiều kỹ thuật khác nhau đã  được dùng để phân tích hợp chất phức tạp dựa trên ái tính khác nhau của  các chất trong môi trường động khí hoặc lỏng và đối với môi trường <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%A5p_ph%E1%BB%A5&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">hấp phụ</span></a> tĩnh mà chúng di chuyển quanhư <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A5y" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">giấy</span></a>, <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Gelatin&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">gelatin</span></a> hay gel <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Magnesium_silicate&amp;action=edit" target="_blank" rel="noopener" class="mycode_url"><span style="color: navy;" class="mycode_color">magnesium silicate</span></a>,...</span></span></span><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: red;" class="mycode_color">Một số kỹ thuật sắc ký ứng dụng vào nghiên cứu </span></span></span> </span><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="font-size: medium;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc  ký là kỹ thuật phân tích chất, phân tích khác biệt trong phân bố giữa  pha động và pha tĩnh để tách các thành phần trong hỗn hợp và thành phần  của hỗn hợp có thể tương tác với pha tĩnh dựa trên điện tích, độ tan  tương đối và tính hấp phụ của chất đó.<br />
 <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Mức lưu giữ</span></span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Mức  lưu giữ đo tốc độ một chất di chuyển trong hệ thống sắc ký. Ở các hệ  thống liên tục như sắc ký lỏng cao áp_HPLC (High Performance Liquid  Chromatography) hay sắc ký khí _GC (Gas Chromatography) mà các hợp chất  được chiết xuất bởi chất chiết xuất, mức lưu giữ được đo bằng thời gian  lưu R[sub]t[/sub] hay t[sub]R[/sub], khoảng thời gian giữa tiêm và phát  hiện. Ở các hệ thống ngắt quãng như TLC (Thin Layer Chromatography), mức  lưu giữ được đo bằng hệ số lưu R[sub]f[/sub], quãng đường di chuyển của  hợp chất chia cho quãng đường di chuyển của chất chiết xuất (chạy nhanh  hơn hợp chất cần phân tích). Mức lưu giữ của một chất thường khác nhau  đáng kể giữa các thí nghiệm và phòng thí nghiệm do dao động của chất  chiết xuất, pha tĩnh, nhiệt độ và thiết kế của thí nghiệm. Vì vậy điều  quan trọng là phải so sánh mức lưu giữ của hợp chất muốn khảo sát với  một hoặc nhiều hợp chất chuẩn trong cùng điều kiện.</span></span> <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Các kỹ thuật sắc ký:</span></span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong  phòng thí nghiệm hoặc xét nghiệm, kỹ thuật sắc ký thường được áp dụng  gồm những loại sau: sắc ký giấy, sắc ký khí-lỏng, sắc ký trao đổi ion,  sắc ký ái tính ion kim loại bất động, sắc ký lỏng hiệu năng cao, sắc ký  thẩm thấu gel, sắc ký ái lực, sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng cap áp,…Tùy  thuộc vào từng hợp chất hoặc thành phần chất cần phân tích, chúng ta  phải sử dụng một số kỹ thuật khác nhau. Chẳng hạn, muốn phân tích tất cả  các thành phần có mặt trong một viên artesunate giả, người ta phải sử  dụng phương pháp sắc ký lớp mỏng, sắc ký khí, sắc ký trao đổi ion, acid  amin, tán xạ tia X,…mới phân tích và kết luận hết các thành phần trong  viên.</span></span> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Trong phạm vi bài viết, chúng tôi muốn giới thiệu sơ nét một số phương pháp sắc ky sau:</span></span> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Sắc  ký lớp mỏng (TLC_Thin Layer Chromatography) là kỹ thuật sắc ký khá  nhanh, đơn giản và tiện lợi. Nó giúp nhận biết nhanh được số lượng thành  phần có trong hỗn hợp đem sắc ký. Trong phương pháp sắc ký lớp mỏng,  thành phần trong hỗn hợp được xác định nhờ so sách hệ số lưu của hỗn hợp  Rf và hệ số lưu Rf của một số chất đã biết. Bản sắc ký dùng trong sắc  ký lớp mỏng TLC thường làm bằng thủy tinh, kim loại hoặc bản plastic  được phủ lên trên bằng 1 lớp chất rắn mỏng như silicagel, bột nhôm.</span></span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Phương  pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC): HPLC là một sắc ký cột (column  chromatograph ) đi kèm với một detector nhạy để có thể phát hiện được  các chất tách ra trong quá trình chạy sắc ký. Với những tiến bộ kỹ thuật  về cột, detector đã chuyển sắc ký cột thành phương pháp phân tích có  tốc độ nhanh và hiệu suất cao. Loại này cần phải có hệ thống bơm cao áp  để đẩy pha động với áp suất cao đến khoảng 30Mpa (300 atm) nhằm tạo dòng  chảy với lưu lương vài ml/ phút. Số lượng mẩu phân tích bằng HPLC chỉ  cần khoảng 20microlit.</span></span></div> <div style="text-align: JUSTIFY;" class="mycode_align"><span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Phương  phpá sắc ký khí: điểm biệt giữa sắc ký lỏng cap áp (HPLC) và sắc ký khí  (GC) là trong phương pháp HPLC, mẫu chỉ cần làm hoà tan mà không cần  làm bay hơi, do đó HPLC có thể phân tích được các chất mà không sợ gây  ra sự phân hủy do nhiệt độ trong quá trình phân tích.</span></span></div> <span style="font-size: small;" class="mycode_size"><span style="color: navy;" class="mycode_color">Một  số thông tin chi tiết liên quan đến lịch sử (history), quy trình vận  hành (operation), ứng dụng (applications), pha động (mobile phase) hoặc  pha tính (stationary phase), sắc ký cột (column), hỏi đáp vopứo nhà sản  xuất (manufactures), trợ lý về kỹ thuật (technical assistance), các lỗi  sai sót và cách khắc phục (troubleshooting), …</span></span></span></span></span></span></span>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Kỹ thuật chiết lỏng-lỏng ]]></title>
			<link>https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-75.html</link>
			<pubDate>Fri, 13 Jan 2012 04:49:50 +0000</pubDate>
			<dc:creator><![CDATA[<a href="https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/member.php?action=profile&uid=1">tuyenlab</a>]]></dc:creator>
			<guid isPermaLink="false">https://xetnghiemdakhoa.com/diendan/thread-75.html</guid>
			<description><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên tắc và điều kiện </span><br />
   <br />
 <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.1 Nguyên tắc: </span><br />
Nguyên tắc của kỹ thuật chiết này là dựa trên cơ  sở sự phân bố của chất phân tích vào hai pha lỏng (2 dung môi) không  trộn lẫn được vào nhau (trong hai dung môi này, có thể một dung môi có  chứa chất phân tích) được để trong một dụng cụ chiết, như phễu chiết,  bình chiết. Và thế hệ số phân bố nhiệt động Kb của cân bằng chiết là một  yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiếtvà tiếp đến là sự ảnh hưởng của  nhiệt độ, môi trường axit. Và Kpb là hằng số nhiệt động. Chiết theo kiểu  này có hai cách là chiết tĩnh và chiết theo dòng chảy liên tục. Trong  phân tích, kiểu tĩnh được ứng dụng nhiều hơn, và sự đơn giản của nó.   <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">[b]<br />
   <br />
  <br />
 1.2 Điều kiện chiết: <br />
 </span><br />
 Để có được kết quả chiết tốt, quá trình chiết phải có các điều kiện và đảm bảo được các yêu cầu nhất định sau đây: <br />
   - Dung môi chiết phải tinh khiết cao, để không làm nhiễm bẩn thêm các chất phân tích vào mẫu. <br />
   - Dung môi chiết phải hoà tan tốt các chất phân tích, nhưng lại không hoà tan tốt với các chất khác có trong mẫu. <br />
   - Hệ số phân bố của hệ chiết phải lín, để cho sự chiết được triệt để. <br />
   - Cõn bằng chiết nhanh đạt được và thuận nghịch, để giải chiết được tốt. <br />
   - Sự phân líp khi chiết phải rừ ràng, nhanh và dễ tách ra riờng biệt các pha. <br />
   - Phải chọn môi trường axit, pH, loại axit thích hợp, <br />
   - Phải thực hiện trong nhiệt độ phù hợp và giữ không đổi trong cả quá trình. <br />
   - Phải lắc hay trộn đều mạnh để quá trình chiết xẩy ra được tốt.		 ]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1. Nguyên tắc và điều kiện </span><br />
   <br />
 <br />
  <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">1.1 Nguyên tắc: </span><br />
Nguyên tắc của kỹ thuật chiết này là dựa trên cơ  sở sự phân bố của chất phân tích vào hai pha lỏng (2 dung môi) không  trộn lẫn được vào nhau (trong hai dung môi này, có thể một dung môi có  chứa chất phân tích) được để trong một dụng cụ chiết, như phễu chiết,  bình chiết. Và thế hệ số phân bố nhiệt động Kb của cân bằng chiết là một  yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiếtvà tiếp đến là sự ảnh hưởng của  nhiệt độ, môi trường axit. Và Kpb là hằng số nhiệt động. Chiết theo kiểu  này có hai cách là chiết tĩnh và chiết theo dòng chảy liên tục. Trong  phân tích, kiểu tĩnh được ứng dụng nhiều hơn, và sự đơn giản của nó.   <span style="font-weight: bold;" class="mycode_b">[b]<br />
   <br />
  <br />
 1.2 Điều kiện chiết: <br />
 </span><br />
 Để có được kết quả chiết tốt, quá trình chiết phải có các điều kiện và đảm bảo được các yêu cầu nhất định sau đây: <br />
   - Dung môi chiết phải tinh khiết cao, để không làm nhiễm bẩn thêm các chất phân tích vào mẫu. <br />
   - Dung môi chiết phải hoà tan tốt các chất phân tích, nhưng lại không hoà tan tốt với các chất khác có trong mẫu. <br />
   - Hệ số phân bố của hệ chiết phải lín, để cho sự chiết được triệt để. <br />
   - Cõn bằng chiết nhanh đạt được và thuận nghịch, để giải chiết được tốt. <br />
   - Sự phân líp khi chiết phải rừ ràng, nhanh và dễ tách ra riờng biệt các pha. <br />
   - Phải chọn môi trường axit, pH, loại axit thích hợp, <br />
   - Phải thực hiện trong nhiệt độ phù hợp và giữ không đổi trong cả quá trình. <br />
   - Phải lắc hay trộn đều mạnh để quá trình chiết xẩy ra được tốt.		 ]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>