Tìm kiếm mọi thứ bạn cần tại đây
  • 197 Vote(s) - Trung bình 2.79
  • 5
  • 4
  • 3
  • 2
  • 1
Chế độ chủ đề

Một số ngộ độc thường gặp và cách xử trí
#51
I. Đại cương
- Từ hơn 40 năm nay đã có hàng nghìn loại phospho hữu cơ tung ra thị trường. P hữu cơ được dùng trong chiến tranh, đó là các chất nervgas, tabun, sarin. P hữu cơ được dùng trong nông nghiệp làm hoá chất trừ sâu, được sử dụng dưới dạng bột, trộn nước hoặc ở thể nhũ tương, hoà tan, đậm độ 0,1 - 3%.
- P hữu cơ chia làm ba nhóm:
+ Ankyl pyrophosphat.
+ Ankyl thiophosphat (nhóm parathion).
+ Phosphoramid.
Hoá chất trừ sâu thông dụng thuộc nhóm ankyl thiophosphat, được oxy hoá ở gan thành paraoxon. Trên mặt hoạt động của men cholinesterase có 2 nhóm: nhóm anion và nhóm cation, paraoxon gắn vào nhóm cation, thành phức hợp phosphoryl hoá vững bền, ức chế hoạt động của men chohnesterase. Do đó acetyl cholin được tích luỹ gây độc.
II. Độc tính
1. Hấp thụ và thải trừ
P hữu cơ hấp thụ qua phút, qua đường tiêu hoá và qua da (theo thứ tự nhanh chậm). Liều nguy hiểm vào khoảng dưới 1g. Nhóm parathion được thải trừ qua nước tiểu dưới dạng paranitrophenol. Nồng độ paranitrophenol cho phép trong nước tiểu người tiếp xúc P hữu cơ là 10 - 40 microgram /lít.
2. Cơ chế gây ngộ độc (do tác dụng của acetylcholin)
a. Trên hô hấp: gây co thắt và tăng tiết phế quản, ức chế trung tâm hô hấp gây suy yếu cơ và liệt cơ hô hấp cuối cùng là ngạt thở thiếu oxy não.
b. Trên tim mạch
- Ở nút xoang và nút nhĩ thất, gây nhịp tim chậm, bloc nhĩ thất.
- Ức chế các trung tâm vận mạch, làm giảm cung lượng tim gây truỵ mạch.
e. Trên thần kinh: gây co giật thớ cơ, tăng thân nhiệt, hôn mê kèm theo co giật. Tình trạng thiếu oxy máu do rối loạn hô hấp dẫn đến thiếu oxy não cũng góp phần gây hôn mê co giật, nhịp tim nhanh, cao huyết áp tiếp theo là rung thất, truy mạch.
Atropin liều cao cũng có khả năng gây rung thất với một cơ tim thiếu oxy.
Vì vậy trong trường hợp ngộ độc lân hữu cơ nặng cần kết hợp tiêm atropin với thở máy có oxy 50 - 70%.
… …
… … …

download
Trích dẫn:http://sdrv.ms/W9B9Wj

#52
I. Đại cương
Có thể gây Co giật Và tử Vong nhanh chóng trong 5 - 10 phút đến vài giờ. Vì vậy cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện (khoa cấp cứu hoặc khoa hồi sức cấp cứu).
II. Độc tính
Thuốc diệt chuột tầu được xác định là trinuoro-acetamid và một số muối của fluor như fluoroacetat, gây độc tế bào do ức chế chu trình Krebs làm giảm chuyển hoá glucose, giảm hô hấp tế bào, rỗng dự trữ năng lượng.
- Các cơ quan bị tổn thương nặng nhất là cơ, tim, não, thận.
- Rối loạn ý thức có thể đến sớm ngay cả khi chưa co giật.
- Co giật dẫn tới tiêu cơ vân gây suy thận.
- Loạn nhịp tim có thể đưa đến đột tử vì vậy cần theo dõi điện tim để phát hiện và xử trí kịp thời.
III. Triệu chứng
A. Lâm sàng
- Khởi đầu buồn nôn, nôn, đau bụng.
- Sau đó: lo lắng, kích động, cứng cơ, co giật và hôn mê, ngoài cơn co giật, co cứng cơ kiểu uốn ván, phản xạ gân xương tăng.
- Tim mạch: thường nhịp nhanh xoang và tụt huyết áp, có thể dẫn đến bloc nhĩ thất, nhịp nhanh thất, rung thất, ngừng tim.
- Đái ít nước tiểu đỏ, dẫn đến suy thận trong vòng 3-4 ngày.
B. XÉT NGHIỆM
- Độc chất tìm thấy trong dịch vị
- Thường có hạ Ca máu, là một trong những nguyên nhân gây co giật.
- Điện tâm đồ: có thể thấy thay đổi T và ST, bloc nhĩ thất, nhịp nhĩ nhanh, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, rung thất.
IV. Xử trí cấp cứu
* Chưa có co giật:
- Tiêm bắp diazepam 10mg nếu phản xạ gân xương tăng.
- Rửa dạ dày: 3 - 5 lít (đến khi nước sạch) pha muối 5g/lít và than hoạt.
- Than hoạt: sau rửa dạ dày, uống 20g mỗi giờ (tổng liều 120g), có thể ít hơn ở trẻ em (tổng liều 30 - 60g).
- Sorbitol uống. Calci chlorua 0,5–1g tĩnh mạch chậm.
- Truyền dịch bảo đảm nước tiểu 200ml/giờ ở người lớn, trên 5 ml/kg/giờ ở trẻ em. Thêm vào mỗi lít lg calci cholorua.
* Nếu co giật hoặc co cứng toàn thân:
- Tiêm diazepam 10mg tĩnh mạch/ 1 lần có thể nhắc lại đến 30mg, nếu vẫn không kết quả: thiopental 200mg tĩnh mạch/ 5 phút rồi truyền duy trì 1-2mg/kg/ giờ (1-2g/24 giờ).
- Đặt ống nội khí quản, thở máy với FiO2 = 1 trong 1 giờ, sau đó 0,4-0,6.
- Đặt ống thông dạ dày, rửa dạ dày và than hoạt sau khi đã khống chế co giật.
- Truyền dịch: natriclorua 0,9%, glucose 5%, Ringerlactat để có nước tiểu 200ml/h. Tiêm tĩnh mạch chậm calcichlorua 1g ở người lớn, 0,5g ở trẻ em. Sau đó, mỗi lọ dịch cho thêm 0,5g calci chlorua.
- Theo dõi thể tích nước tiểu, nếu < 150ml /3giờ nên đặt ống thông TMTT theo dõi ALTMTT. Nếu ALTMTT > 10 CmH2O cho furosemid 1-2 ống tĩnh mạch.
- Acetamid 10% 500ml truyền tĩnh mạch /30 phút mỗi 4 giờ.
- Glycerol monoacetat 0,1-0,5mg/kg/30 phút.
- Nếu tụt huyết áp: dopamin phối hợp với dobutamin truyền tĩnh mạch: dobutamin: 5-10 mcg/kg/phút, dopamin: 5-20 mcg/kg/phút để có huyết áp tối đa > 90mmHg.
… …
… … …

download
Trích dẫn:http://sdrv.ms/Xkbr4S

#53
I. Đặc điểm
Paraquat là một thuốc diệt cỏ.
Tên thị trường: Glamoxone, Cyclone, Surefire, Prelude.
Chuyển hoá:
Paraquat thẩm qua tiểu tràng rất nhanh. Nồng độ huyết tương lên đến đỉnh cao sau 2 giờ, 5-10% được hấp thụ qua ruột, còn lại được thải trừ qua phân. Paraquat được phân phối khắp cơ thể nhưng tập trung nhiều vào thận và phổi. Ngoài ra paraquat còn đọng lại trong tổ chức cơ và phân phối lại vào máu trong vòng 24 giờ đầu (độ thanh lọc 200ml/phút). Vì vậy việc tìm cách duy trì cho bệnh nhân đái nhiều là rất quan trọng.
II. Sinh bệnh học
Paraquat tác hại chủ yếu trên phổi. Tổn thương tiến triển theo 2 giai đoạn:
- Giai đoạn phá huỷ trong vài giờ đầu: viêm phế nang làm mất các tế bào phế nang type I và type II, xâm nhập các tế bào gây viêm và chảy máu, dẫn đến phù phổi cấp tổn thương,
chảy máu.
- Giai đoạn phì đại: cấu trúc phế nang mất đi, tế bào xơ phát triển, chất keo đọng lại ở phế nang và khoảng kẽ, gây tình trạng bloc phế nang mao mạch. Trên thực nghiệm, phối hợp thở oxy làm cho ngộ độc paraquat nặng hơn.
Paraquat có nồng độ cao nhất ở phổi trước 7 giờ đầu, nếu không có suy thận và 15-20 giờ nếu có suy thận.
Có 2 giả thuyết giải thích cơ chế gây ngộ độc: quá trình lipid peroxyt hoá và quá trình mất NADPH cần cho sự tổng hợp surfactant.
Các tế bào lớp thượng bì phế nang type I và type II tích luỹ chọn lọc paraquat. Sự tích luỹ này phụ thuộc thời gian và năng lượng. Paraquat và các chất diamin và polyamin nội sinh như putrescin và spermidin đều có các nguyên tử N bậc 4 có khoảng cách từ 0,6-0,7 nanomet, nên được hệ thống vận chuyển màng tích cực đưa nhanh vào phổi. Diquat không có đặc điểm này nên không ảnh hưởng tới phổi. Thời gian paraquat nằm lâu trong
phổi đến 24 giờ càng gây tác hại. Ở tế bào phế nang, các gốc tự do kết hợp với paraquat với sự có mặt của oxy, tạo ra gốc superoxyt (O2-). sự Sản xuất quá mức các điện tử và oxy trong phổi duy trì chu trình oxy khử (redox). Hậu quả dẫn đến chết tế bào. Tế bào đáp ứng bằng cách tăng tổng hợp acid béo và penton phosphat để tái tạo NADPH nhưng không giải quyết được hết các gốc superoxyt và OH-. Hậu quả là các màng lipid và các thành phần trong tế bào bị phá huỷ bởi quá trình lipid peroxyt hoá làm cho tế bào chết.
III. Lâm sàng
A. Liều gây chết
- Uống quá 40mg paraquat/kg (khoảng một thìa canh 15ml) một dung dịch paraquat 20% thường gây tử vong trong 1-5 ngày do suy đa phủ tạng hoặc do bỏng niêm mạc tiêu hoá. Bỏng thực quản có thể gây thủng dẫn đến viêm trung thất.
- Uống từ 30-40 mg paraquat/kg sẽ gây tử vong trong vòng 5 ngày đến nhiều tuần lễ do viêm loét ống tiêu hoá và hoại tử vỏ thận và cuối cùng là xơ phổi.
B. Triệu chứng tại chỗ
Kích thích và viêm da, màng tiếp hợp, kết mạc. Long móng.
C. Triệu chứng toàn thân
Tiêu hoá
Loét miệng họng, buồn nôn, nôn mửa, ỉa chảy, nôn ra máu.
Họng có màng giả, thủng thực quản gây viêm trung thất, tràn khí màng phổi.
Thận: đái ít, vô niệu.
Phổi: ho ra máu, khó thở. Phù phổi cấp, kiểu ARDS, xơ phổi.
Tuỵ: viêm tuy cấp.
Gan: hoại tử múi trung tâm và gan ứ mật.
Tim mạch: giảm thể tích máu, sốc, rối loạn nhịp tim.
Thần kinh trung ương: hôn mê, co giật, phù não.
Thượng thận: suy thượng thận do hoại tử.
Tuỷ xương: tăng bạch cầu, thiếu máu.
Tóm lại: đó là bệnh cảnh của hội chứng suy đa tạng.
D. Xét nghiệm
Lấy 10ml nước dạ dày hoặc nước tiểu có paraquat cho vào ống nghiệm, đổ vào một dung dịch NaOH để kiềm hoá cho pH >9 (có thể dùng 1 thìa canh NaCO3H để thay thế cho NaOH. Lấy một dao nhỏ súc một ít natridithionit bỏ vào hỗn hợp trên, ngoáy đều. Đọc kết quả trên một nền trắng. Nếu có màu xanh hoặc xanh lơ: kết quả (+). Màu đen chứng tỏ có nồng độ paraquat cao. Pha loãng rồi làm lại xét nghiệm. Kết quả (+) với nồng độ paraquat > 2mg/l.
Các mẫu máu xét nghiệm phải được bảo quản ở ống chất dẻo, không được dùng ống thuỷ tinh (vì paraquat bám vào thuỷ tinh).
Định lượng paraquat trong máu để xác định tiên lượng bệnh bằng các phương pháp: RIA, FIA, sắc kí khí hoặc sắc kí lỏng.
… …
… … …

download
Trích dẫn:http://sdrv.ms/XkbygG

#54
I. Đại cương
Tên khác: acetaminophen.
Tên biệt dược: Efferalgan, Diantavic (paracetamol + dextropropoxyphen).
Liều độc dược: trên 8g ở người lớn, 100mg/kg ở trẻ em. Đặc biệt nguy hiểm nếu có viêm gan tiềm tàng từ trước, không được phát hiện.
II. Tác dụng dược lý và độc tính
Paracetamol được dùng để giảm đau, hạ sốt.
Paracetamol được chuyển hoá ở gan. Liều cao gây độc cho gan do sản xuất ra các hoá chất trung gian ở phạm vi các cytochrom P450. Hoá chất độc chủ yếu là N-acetyl- p.benzoquinone imin. Paracetamol còn gây độc cho thận, cơ tim, tuỵ và cơ vân.
Các nguyên nhân thuận lợi làm cho nhiễm độc paracetamol ở liều thông thường là:
- Tiền sử mắc bệnh tâm thần.
- Mới uống rượu và thuốc an thần.
- Dùng paracetamol cùng với thuốc khác.
- Bệnh nhân mới bị tụt huyết áp.
Các yếu tố trên làm tăng tác dụng của các hoá chất trung gian hoặc làm mất glutathion từ tế bào hoặc cả hai.
III. Lâm sàng
Khởi đầu:
Triệu chứng nghèo nàn, chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng.
Nhưng nếu làm xét nghiệm, có thể thấy:
- Tỷ lệ prothrombin < 35%. - Creatinin máu > 150mcmol/l.
Không can thiệp ngay và ngừng thuốc, bệnh sẽ nặng lên. Đó là bệnh cảnh của viêm gan nhiễm độc cấp.
Triệu chứng nhiễm độc nặng:
- Bệnh não gan, xảy ra chậm từ ngày 3 đến ngày 6.
- Toan chuyển hoá.
IV. Xét nghiệm
1. Xét nghiệm hoá sinh:
- GPT tăng 100 lần bình thường.
- Phospho máu giảm
- Phospho niệu tăng.
- Đường máu có thể hạ.
- Xét nghiệm các khí trong máu cho thấy có: toan chuyển hoá kèm theo tăng lactat máu.
- Rối loạn đông máu do suy tế bào gan và đông máu rải rác trong lòng mạch.
- CK tăng, amylase máu tăng.
2. Xét nghiệm độc chất
- Tìm paracetamol trong máu và nước tiểu. Tuy nhiên nồng độ paracetamol trong máu thấp mà lâm sàng vẫn nặng.
V. Xử trí
Uống than hoạt, rửa dạ dày nếu uống chất độc trong 6 giờ đầu.
Truyền tĩnh mạch N-acetylcystein 150mg/kg trong 15 phút
… …
… … …

download
Trích dẫn:http://sdrv.ms/XkbJJ3

#55
tham khảo thêm cách điều trị ngộ độc rượu

#56
ngộ độc rượu bây h rất nguy hiểm tới tính mạng con người






Thành viên đang xem chủ đề: 1 Khách

Color Skins

Change Color:

Background Patterns:

Background Images:

Background Header:

Setting Panel

Main Options: